Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TU MƠ RÔNG

TỈNH KON TUM

Bản án số: 06/2024/HSST

Ngày: 26/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG- TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Rin Ka và ông Nguyễn Thuận Hóa;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Chí Dũng- Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 26/11/2024, tại Hội trường UBND xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum, Toà án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/ QĐXXST-HS, ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Y CHIAO (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/02/1986 tại Kon Tum.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Xê đăng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A V, sinh năm 1942 (Đã chết) và bà Y D, sinh năm 1944; Chồng A D1, sinh năm 1985, trú tại: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Y THỨ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/04/1999 tại Kon Tum.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Xê đăng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A N, sinh năm 1970 và bà Y M, sinh năm 1974; Chồng A P, sinh năm 1996, trú tại: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Y THÃO (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 17/7/1986 tại Kon Tum.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Xê đăng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A N1, sinh năm 1944 (Đã chết)và bà Y N2, sinh năm 1946; Chồng A L, sinh năm 1990, trú tại: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/7/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K;

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: 2 H, phường T, TP .;

- Đại diện theo pháp luật: ông Trần H1- Chức vụ: Tổng giám đốc

- Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1984. Có mặt.

Địa chỉ: A N, phường Q, TP .

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh A C, sinh năm 1988

Trú tại: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum.

- Người phiên dịch: Chị Y N3, sinh năm 1986. Có mặt.

Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 05/6/2024, Y C1, Y T, Y T1 gặp nhau và cùng rủ nhau đi bộ về hướng xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để tìm nấm. Đến trưa cùng ngày khi đang trong rừng thuộc thôn C, xã M, huyện T thì cả ba phát hiện thấy khu vực trồng sâm của Công ty Cổ phần S do ông Nguyễn Đức Q quản lý, giao cho ông A C làm bảo vệ. Thấy không có người trông coi nên cả ba nảy sinh ý định trộm cắp sâm Ngọc L1 để đem về trồng. Lúc này, Y C1 hỏi Y T, Y T1 “Có lấy sâm không, cỏ mọc cao rồi” thì Y T và Y T1 đồng ý. Sau đó cả ba lén lút vào vườn sâm, dùng tay nhổ tại các luống sâm hình tròn và hình chữ nhật được làm bằng lưới xanh. Chỉ có luống đầu và luống cuối thì cả ba nhổ cùng nhau, còn lại mỗi người tự nhổ ở các luống khác nhau. Y Chiao, Y T, Y T1 nhổ tổng cộng được 69 (Sáu mươi chín) cây sâm sâm Ngọc L1 có cả củ, thân, lá bao gồm 10 (Mười) cây loại 05 năm tuổi, 11 (Mười một) cây loại 03 năm tuổi và 48 (Bốn mươi tám) cây loại 02 năm tuổi. Tất cả số sâm lấy trộm được đều bỏ vào bao màu trắng do Y C1 mang trên lưng. Vì sợ bị phát hiện nên cả ba không dám chia, mà sau đó cả ba đi về bìa rừng tại thôn L, xã M bỏ tất cả 69 cây sâm Ngọc L1 vào rổ màu đỏ của Y C1 rồi đem cất giấu tại gốc cây tại bìa rừng thôn L, xã M gần vườn sâm của Y T rồi đi về nhà.

Đến ngày 07/6/2024, Y C1, Y T, Y T1 khi nghe người dân trong thôn bàn tán việc ông A C bị mất trộm sâm Ngọc L1 và nghe vị trí mất sâm có nhiều đặc điểm tương đồng với địa điểm mà mình lấy trộm nên đến tối ngày 07/6/2024, Y C1, Y T, Y T1 đã đến nhà A C tự thú và thừa nhận cả ba người đã lấy trộm sâm của A C. Đến sáng ngày 08/6/2024, Y C1, Y T, Y T1 cùng ông A C đến nơi cất giấu sâm và lấy sâm về. Sau đó tất cả cùng ra cơ quan Công an để tự thú nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, Y C1, Y T, Y T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản kết luận giám định tư pháp số: 12-2024/KL/GĐCN ngày 17/6/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K kết luận: Các mẫu được giám định được ký hiệu từ SHPT-433 đến SHPT-501 được trích từ các mẫu thực vật cần giám định là sâm Ngọc L1 với tên gọi khoa học Panax vienamensis Ha et G thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) lớp hai lá mầm (D).

Bản Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐ ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T đối với 69 (Sáu mươi chín) cây sâm Ngọc L1 mà Y C1, Y T, Y T1 thực hiện hành vi trộm cắp trị giá 52.175.000 đồng (Năm mươi hai triệu một trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 phạm tội "Trộm cắp tài sản"; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Y C1 từ 18 (mười tám) đến 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử phạt bị cáo Y T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử phạt bị cáo Y T1 từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản gồm 69 cây sâm Ngọc L1 đã được thu hồi và không bị hư hỏng. Đại diện theo ủy quyền của bị hại ông Nguyễn Đức Q không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định 69 cây sâm Ngọc L1 mà Y C1, Y T, Y T1 thực hiện hành vi trộm cắp thuộc sở hữu công ty Cổ phần S do ông Nguyễn Đức Q được giao quản lý. Xét thấy việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng bằng cách trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) rổ màu đỏ bằng nhựa hình tròn đường kính 40cm, có lỗ xung quanh hình vuông và 01 (Một) bao đựng màu trắng có 02 quai đeo bằng vải dệt nhựa PP, trên miệng có may dây rút màu đen hiện các vật chứng đã bị hư hỏng, không có giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX tịch thu, tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo Y C1, Y T và Y T1, bà Nguyễn Thị Thúy H thống nhất với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất vì ngay khi thấy dân làng bàn tán về việc mất trộm sâm các bị cáo tự đến nhà A C là người được giao bảo vệ vườn sâm để tự thú về hành vi của mình và giao nộp lại toàn bộ 69 gốc sâm đã trộm cắp, ngoài lần phạm tội này các bị cáo đều chấp hành tốt pháp luật, là phụ nữ người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên cho các bị cáo được hưởng mức án từ 15 đến 18 tháng tù, riêng bị cáo Y T đang nuôi hai con nhỏ, một con mới 3 tuổi, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt.

Đại diện Viện kiểm sát không thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa về việc cho Y T được hưởng án treo vì Viện kiểm sát đã cân nhắc đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để xét xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, riêng bị cáo Y T có trình độ học vấn cao hơn hai bị cáo khác, mặt khác, tình hình trộm cắp tài sản, nhất là trộm cắp sâm ngọc linh trên địa bàn ngày càng gia tăng nên phải xét xử nghiêm để răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Các bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa trình bày và nói lời sau cùng:

Các bị cáo biết mình đã sai, thề không bao giờ trộm cắp tài sản nữa và xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo tích cực học tập, cải tạo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 đã có hành vi trộm cắp tài sản tại thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông theo quy định tại Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 08 giờ ngày 05/6/2024, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bảo vệ vườn sâm, các bị cáo Y C1, Y T, Y T1 đã lén lút lấy trộm của Công ty Cổ phần S cây sâm Ngọc L1 có cả củ, thân, lá; cả ba cùng nhổ 19 cây ở luống đầu và luống cuối, ngoài ra Y C2 nhổ 24 cây, Y T nhổ 17 cây và Y T1 nhổ 9 cây. Trong đó 10 (Mười) cây loại 05 năm tuổi, 11 (Mười một) cây loại 03 năm tuổi và 48 (Bốn mươi tám) cây loại 02 năm tuổi có tổng trị giá 52.175.000 đồng. Mặc dù các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nhưng sau lời khởi xướng của Y C1 thì Y T và Y T1 đồng ý và cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản các bị cáo đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý bất an cho người dân và doanh nghiệp trồng sâm trên địa bàn. Do đó, cần tuyên phạt các bị cáo mức án thật nghiêm khắc để răn đe riêng và phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh có hiệu quả với tội phạm trộm cắp tài sản, nhất là trộm cắp sâm Ngọc L1 đang ngày càng gia tăng.

Đồng thời, cũng cần phân hóa rõ vai trò của các bị cáo để lượng mức hình phạt cho phù hợp. Đối với bị cáo Y C1: bị cáo là người khởi xướng và cũng là người thực hành và nhổ trộm nhiều sâm nhất, 19 cây chung và nhổ riêng 24 cây nên phải tuyên mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Y T1 nhổ ít sâm nhất và cũng có quan hệ chị dâu em chồng với Y C1 nên cân nhắc hình phạt nhẹ hơn so với bị cáo Y T. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Nhưng cũng xét thấy ngay khi nghe dân làng bàn tán về việc mất trộm sâm, các bị cáo đã tự đi đến nhà anh A C là người được giao bảo vệ vườn sâm để tự thú và nộp lại toàn bộ 69 cây sâm, các cây sâm này đã được trả lại cho bị hại và cây vẫn sinh trưởng tốt, không bị thiệt hại gì, trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS nên áp dụng Điều 54 BLHS để cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Ngoài ra, các bị cáo đều là phụ nữ người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, giao tiếp bằng tiếng phổ thông có nhiều hạn chế; đều là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi con nhỏ và trong độ tuổi đi học; các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 và hướng dẫn tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo theo văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao để cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách nhất định cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đề cập nữa.

[5] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả 69 cây sâm Ngọc L1 cho bị hại là phù hợp, đúng quy định.

Đối với 01 (Một) rổ màu đỏ bằng nhựa hình tròn đường kính 40cm, có lỗ xung quanh hình vuông và 01 (Một) bao đựng màu trắng có 02 quai đeo bằng vải dệt nhựa PP, trên miệng có may dây rút màu đen hiện các vật chứng đều đã bị hư hỏng, không có giá trị sử dụng nên HĐXX tuyên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Tại phiên tòa, các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy, các bị cáo Y C1, Y T, Y T1 đều là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng điểm c khoản 2 điều 173; Điều 17; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Tuyên bố các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Y C1 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án (26/11/2024).
  • - Xử phạt bị cáo Y T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (26/11/2024).
  • - Xử phạt bị cáo Y T1 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án (26/11/2024).

Giao các bị cáo Y C1, Y T, Y T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Y C1, Y T, Y T1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Y C1, Y T, Y T1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[2] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) rổ màu đỏ bằng nhựa và 01 (Một) bao đựng màu trắng.

(Các vật chứng có đặc điểm giống như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Y C1, Y T và Y T1 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (26/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Tu Mơ Rông;
  • - Công an huyện Tu Mơ Rông;
  • - CCTHADS huyện Tu Mơ Rông;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Bình Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 06/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y Chiao, Y Thứ, Y Thão - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger