|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59A/2024/HS-PT Ngày 23 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga – Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 23/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Đức T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Bị cáo có kháng cáo:
Lưu Đức T, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1983 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Xuân T1 và bà Võ Thị T2; Có vợ là Đậu Thị Y và 04 con; Tiền án: Ngày 27/10/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 7.000.000₫ về tội “Đánh bạc”, đã thi hành xong vào ngày 26/10/2014 . Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong vào ngày 20/02/2021; Bị tạm giữ từ ngày 29/3/2023 và tạm giam từ ngày 07/4/2023 cho đến ngày 06/7/2023, hiện đang tại ngoại; Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Đậu Thị Y, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện Y, Nghệ An. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Bá L, sinh năm 1980 và ông Lê Thanh D, sinh năm 1971 – Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: số C, phố T, phường N, quận Đ, Hà Nội. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 29/3/2023, C gặp H tại khu vực ngã tư xã P thì H nói với C rủ H1 và T để đi đánh bạc thì C đồng ý. H sử dụng điện thoại di động để gọi cho H1 và rủ H1 đi đánh bạc thì H1 đồng ý. C sử dụng điện thoại di động để gọi cho T3 xin phép T3 cho C và mọi người lên nhà T3 để đánh bạc thì T3 đồng ý. Sau đó, H1 đi từ nhà đến ngã tư xã P gặp H và C rồi cả ba đi đến nhà T3. Tại nhà của T3 thì H đã gọi điện thoại cho T và rủ T đến nhà T3 đánh bạc thì T đồng ý, còn C đã gọi điện thoại cho T3 đi về nhà của T3. Sau đó, T3 đi về nhà mình và ngồi uống nước cùng với H, C và H1. Ngồi uống nước một lúc thì C, H1 và H đi vào phòng ngủ thứ ba (theo hướng từ sân vào) của nhà T3 và thấy trong phòng có 01 chiếc chiếu nhựa đã trải sẵn, bên cạnh có 01 chiếc chăn bông và 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng. T3 đưa vào phòng 01 gói thuốc lá và 01 ấm trà cho các đối tượng. Các đối tượng thống nhất đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa và H1 đã dùng kéo cắt 04 quân vị từ các vỏ bao thuốc lá. Khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, T đi đến nhà T3. Sau khi mở cổng cho T vào nhà thì T3 đã khóa cổng để đi câu cá. Khi T đến thì H có mượn của T số tiền 10.000.000₫ nói để mua vật liệu xây dựng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T - C - H1 và H cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Các đối tượng tham gia đánh bạc với hình thức đánh “xóc đĩa” như sau: sử dụng 01 chiếc bát sứ, 01 chiếc đĩa sứ và bốn quân vị làm công cụ đánh bạc. Người chơi gồm người cầm cái và người tham gia đặt cược. Bắt đầu đánh bạc người cầm cái sẽ bỏ 04 quân vị vào bát, đĩa và lắc đều rồi đặt lên chiếu, người tham gia đặt cược đặt cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Tỷ lệ đặt cược từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Sau khi đặt cược xong, người cầm cái sẽ mở bát để xem kết quả. Nếu kết quả xuất hiện cửa mà người chơi đặt cược trước đó thì người chơi thắng và người cầm cái phải trả số tiền bằng số tiền cược mà người chơi đã đặt và ngược lại. Trước khi đánh bạc, các đối tượng thống nhất góp mỗi người 500.000 đồng, tổng cộng 2.000.000 đồng để đưa cho Hoàng Văn T4 sau khi đánh bạc xong. Tuy nhiên Hoàng Văn T4 - Chủ nhà không biết việc này và chưa nhận được số tiền này.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an huyện Y đã đến nhà ở của Hoàng Văn T4 để tiến hành kiểm tra, xác minh. Khi tổ công tác đến kiểm tra, các đối tượng đang đánh bạc phát hiện thấy Công an nên đã cất giấu tiền và rời khỏi chiếu bạc. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tiến hành thu giữ tại nhà Hoàng Văn T4: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bát sứ màu trắng; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 chiếc chăn bông màu đỏ đã qua sử dụng; 01 chiếc kéo có phần cán tay màu xám, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu THĂNG LONG màu vàng, đã bị cắt phần mép bên phải; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE, màu xám, đã bị cắt phần mép bên phải; thu giữ tại vị trí dưới gầm tủ lạnh đặt tại sân cạnh nhà vệ sinh số tiền 29.000.000 đồng (đây là số tiền đánh bạc mà Phùng Văn H2 cất giấu); 05 chiếc điện thoại di động của các đối tượng. Ngoài ra thu giữ trên người các đối tượng số tiền cụ thể: thu của Phùng Văn H2 500.000 đồng, Phùng Đình C1 41.500.000 đồng, Lưu Đức T 12.000.000 đồng, Phan Thanh H3 52.000.000 đồng.
Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, các đối tượng Lưu Đức T, Hoàng Văn T4 đã xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phùng Đình C1, Phan Thanh H3, Phùng Văn H2.
Quá trình điều tra đã xác định được số tiền các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau: Phùng Đình C1 sử dụng số tiền 40.000.000đ, Phan Thanh H3 sử dụng số tiền 30.000.000đ, Phùng Văn H2 sử dụng số tiền 13.000.000đ, Lưu Đức T sử dụng số tiền 12.000.000đ. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 95.000.000₫ (Chín mươi lăm triệu đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Lưu Đức T 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 BLHS. Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù của Bản án số 139/2022/HSST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo Lưu Đức T phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2022 đến ngày 12/8/2022 và từ ngày 29/3/2023 đến ngày 06/7/2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/01/2024 bị cáo Lưu Đức T làm đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức T, sửa bản án sơ thẩm. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Lưu Đức T 3 năm 6 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 BLHS. Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù của Bản án số 139/2022/HSST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo Lưu Đức T phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2022 đến ngày 12/8/2022 và từ ngày 29/3/2023 đến ngày 06/7/2023.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng Bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và bản án sơ thẩm của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm có mâu thuẫn trong việc xác định người gọi điện rủ bị cáo T tham gia đánh bạc; xác định số tiền bị cáo Phan Thanh H3 dùng để đánh bạc chưa chính xác; xác định địa điểm thu chiếc kéo là vật chứng vụ án còn có mâu thuẫn; quá trình điều tra khi lấy lời khai của bị cáo T không có người đại diện hợp pháp của bị cáo trong khi bị cáo là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi; Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng chưa đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo T; Đánh giá vai trò phân hóa hình phạt các bị cáo trong vụ án chưa công bằng; Việc tổng hợp 03 (Ba) năm tù của Bản án số 139/2022/HSST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành chuyển hình phạt từ án treo sang hình phạt tù là quá nặng, cần trừ đi thời gian bị cáo đã chấp hành hình phạt. Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt do bị cáo vì hiện nay bị cáo đang bị bệnh, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi mẹ già, con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về sự vắng mặt của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt, người đại diện hợp pháp của bị cáo có đơn xin cho bị cáo được vắng mặt, người đại diện hợp pháp và luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo. Xét thấy bị cáo Lưu Đức T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo kháng cáo.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/3/2023, tại nhà của mình thì Hoàng Văn T4 đã cho phép Lưu Đức T - P - Phan Thanh H3 và Phùng Văn H2 đánh bạc được thua bằng tiền với nhau bằng hình thức xóc đĩa với tổng số tiền 95.000.000đ. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Đức T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Lưu Đức T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống và gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Song với mục đích nhằm thu lợi bất chính bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng động dân cư, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.
Về vai trò của bị cáo T trong vụ án: Bị cáo cùng với các bị cáo Phùng Đình C1 - Phan Thanh H3 và Phùng Văn H2 đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, các bị cáo đều tham gia đánh bạc trong cùng thời gian, cùng luật chơi, và bị bắt với tổng số tiền được xác định là 95.000.000đ . Như vậy, các bị cáo đều là người thực hành trong đồng phạm, có vai trò ngang nhau.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 27/10/2022, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Đánh bạc”. Vì vậy, bị cáo phạm tội lần này có tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y tặng thưởng Giấy khen; bị cáo có bố tham gia cách mạng và được tặng thưởng huân chương kháng chiến, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 –khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuy nhiên, bị cáo T là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án các cấp xử phạt nhiều lần về các hành vi “Đánh bạc”, song bị cáo không lấy đó làm bài học để thay đổi, hành vi phạm tội lần này của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và cảnh tỉnh, phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lưu Đức T 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ và đủ tính nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm một số tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, gồm: Giấy xác nhận của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình xác nhận Lưu Đức T có công hỗ trợ, chung tay ủng hộ đồng bào miền T mùa bão lũ; Quyết định của Bộ về việc thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với bà Võ Thị T2 (mẹ của bị cáo Lưu Đức T) là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; Giấy khen của Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An đối với Lưu Đức T vì đã có thành tích trong công tác thiện nguyện hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng do lũ quét gây ra trên địa bàn xã B năm 2022; Giấy chứng nhận thương binh, huân chương kháng chiến hạng nhì, huân chương chiến sỹ giải phóng hạng ba của ông Lưu Xuân T1 (bố của bị cáo Lưu Đức T). Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, gia đình bị cáo có người có công với cách mạng, do đó cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[3] Về quan điểm bào chữa của luật sư: Hội đồng xét xử xét thấy tài liệu điều tra trong vụ án đã được thu thập khách quan, có đủ căn cứ xác định người phạm tội, hành vi khách quan, ý thức chủ quan của các bị cáo. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Luật sư bào chữa về việc hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại. Chấp nhận ý kiến của Luật sư về việc áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo T và phân hóa hình phạt giữa các bị cáo cho phù hợp, đúng pháp luật.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Lưu Đức T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Đức T, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Lưu Đức T.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lưu Đức T 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù của Bản án số 139/2022/HSST ngày 27/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo Lưu Đức T phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2022 đến ngày 12/8/2022 và từ ngày 29/3/2023 đến ngày 06/7/2023.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lưu Đức T không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Hải |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Thanh Nga Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 59A/2024/HS-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 59A/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Đức T- Đánh bạc
