|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 599/2024/DS-ST Ngày: 22-8-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- 2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 714/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 237/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Tổng Công ty Điện lực Thành phố H.
Địa chỉ: C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Công ty Đ, số F Đường Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn T, địa chỉ: 1 T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo pháp luật (Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực Thành phố H)
Ông Nguyễn Văn D, chức vụ: Phó Đội trưởng Đội Quản lý thu ghi, Chi nhánh Tổng công ty Điện Lực Thành phố H; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1369/UQ-PCHM ngày 26/4/2023) (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1982.
Địa chỉ: 7 ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hồng C ký Hợp đồng Mua bán điện số 21/006029 ngày 12/05/2021 với Tổng Công ty Điện lực Thành phố H, hai bên thỏa thuận mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt tại địa chỉ: Nhà không số thuộc một phần thửa 546, TBĐ 03, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Mã khách hàng: PE08000334387). Trong quá trình sử dụng điện, bà Nguyễn Thị Hồng C còn nợ số tiền 4.374.975 đồng của các kỳ hóa đơn tháng 3,4/2023. Đến nay bà Nguyễn Thị Hồng C chưa thanh toán số tiền trên nên Tổng Công ty Điện lực Thành phố H khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán số tiền 4.374.975 đồng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán ngay số tiền còn nợ của các kỳ hóa đơn với tổng số tiền là 4.374.975 đồng theo các kỳ hóa đơn tháng 3,4/2023.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát kiến nghị để Tòa án rút kinh nghiệm. Các đương sự đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua điện sinh hoạt còn nợ theo hợp đồng mua bán điện; Bị đơn đang cư trú tại huyện H. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: bà Nguyễn Thị Hồng C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua điện sinh hoạt còn nợ tổng cộng là 4.374.975 đồng, bị đơn không có ý kiến phản hồi nên trong vụ án này, Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1] Căn cứ hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 21/006029 ngày 12/05/2021, giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H và bà Nguyễn Thị Hồng C, mã khách hàng PE08000334387 có căn cứ xác định Tổng Công ty Điện lực Thành phố H đã cung cấp điện sinh hoạt cho bà Nguyễn Thị Hồng C tại nhà không số thuộc một phần thửa 546, tờ bản đồ số 03, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng thì hợp đồng có hiệu lực kể từ 13 tháng 05 năm 2021 đến ngày 01 tháng 05 năm 2026 và giữa hai bên chưa có văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt hợp đồng nên hợp đồng này đang có hiệu lực pháp luật. Giao kết giữa các bên phù hợp quy định tại các Điều 430, 431, 433, 434, 435 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 22 Luật điện lực.
[2.2] Căn cứ các hóa đơn tiền điện: số 459321 kỳ hóa đơn tháng 3/2023, số tiền 2.518.635 đồng, số 635175 kỳ hóa đơn tháng 4/2023, số tiền 1.856.340 đồng, do Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH phát hành, có đủ cơ sở xác định bà C còn nợ Tổng Công ty Điện lực Thành phố H TNHH số tiền sử dụng điện là 4.374.975 đồng và đến nay bà Nguyễn Thị Hồng C chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự 2015, khoản 1 Điều 23 của Luật điện lực.
[2.3] Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:”Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh nên phải tự chịu trách nhiệm.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3] Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 430, 431, 433, 434, 435, 440 của Bộ luật dân sự 2015;
Áp dụng Điều 22 và khoản 1 Điều 23 của Luật điện lực;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty Điện lực Thành phố H.
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng C phải thanh toán cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H còn nợ của các kỳ hóa đơn tháng 3,4/2023 với tổng số tiền là 4.374.975 (bốn triệu ba trăm bảy mươi bốn ngàn chín trăm bảy mươi lăm) đồng, theo hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt số 21/006029 ngày 12/05/2021 giữa Tổng Công ty Điện lực Thành phố H và bà Nguyễn Thị Hồng C.
Kể từ ngày Tổng Công ty Điện lực Thành phố H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị Hồng C chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Hồng C phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). H lại cho Tổng Công ty Điện lực Thành phố H (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004473 ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Oanh |
Bản án số 599/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 599/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toan bộ yêu cầu của nguyên đơn
