Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 599/2024/HS-ST

Ngày: 11-11-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Chính.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 583/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 606/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Trung H (Tên gọi khác: Lắc bò), sinh ngày 12 tháng 12 năm 1991 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 83/5, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Trần Đức K, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Bùi Thị L, sinh năm 1953; Gia đình bị cáo có 12 anh em; bị cáo là con thứ 11 trong gia đình; có vợ tên Trần Thị Thùy D và có 01 con sinh năm 2019;

Tiền án:

  • Ngày 28/10/2020 bị Toà án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • Ngày 20/02/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 02/02/2016, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Ngày 08/8/2018, bị Công an huyện T xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 22/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).

2. Trần Quang Anh K1 (Tên gọi khác: K1 chó), sinh ngày 07 tháng 01 năm 2000 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 5 tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Trần Quang K2, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 04 anh, em; bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ tên Trần Như Q, sinh năm 2001 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023);

Tiền án: Ngày 11/11/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

  • Ngày 29/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 206/2017/HS-ST
  • Ngày 20/8/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 431/2024/HS-ST.

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 26/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

3. Nguyễn Văn K3, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1993 tại Yên Bái; Nơi cư trú: D khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn K4, (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 02 chị, em; bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con;

Nhân thân: Ngày 05/9/2013 bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã đóng tiền án phí.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 22/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Có mặt).

4. Đỗ Đức T1, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1993 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 81/5 khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Đỗ Đức T2, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Võ Thị T3, sinh năm 1966; Gia đình bị cáo có 07 anh, em; bị cáo là con thứ tư trong gia đình; sống chung như vợ chồng với chị Võ Thị Trúc L2, sinh năm 1996 và có 02 con sinh (lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2023);

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 27/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 01 năm 06 tháng theo Quyết định số 51/QĐ-TA

Ngày 27/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 385/2020/HS-ST

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 26/12/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

5. Vũ Quốc T4, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1996 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 78E/5 khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Không có nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Vũ Hoàng T5, sinh năm 1975 và bà Ngô Thị Tuyết M, sinh năm 1978 (đã chết); Bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị giam, giữ từ ngày 02/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt).

Bị hại:

Chị Nguyễn Thị Bích T6, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 407/2/7 khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin vắng mặt).

Chị Đỗ Thị Xuân L3, sinh năm 1983; Nơi cư trú: tổ C, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

Anh Phan Trung K5, sinh năm 1990; Nơi cư trú: tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

Anh Trần Minh T7, sinh năm 2002; Nơi cư trú: C210 tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Quốc T4, Trần Trung H, Nguyễn Văn K3, Đỗ Đức T1 và Trần Quang Anh K1 là những người không có nghề nghiệp. Do cần tiền tiêu xài nên T1, K3, H, T4 và K1 đã thực hiện nhiều vụ “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cụ thể như sau:

Vụ 01: Khoảng 17 giờ ngày 22/8/2020, Trần Trung H gặp Phạm Tiến D1, ngụ tại tổ C, khi phố D, phường T, thành phố B thì được D1 nhờ đi chở bàn ghế với tiền công là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nên H đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, D1 dẫn H đi đến căn nhà không số tại tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B của chị Nguyễn Thị Bích T6 làm chủ đang khóa cửa và D1 nói chủ nhà đang giữ chìa khóa nên phải tìm công cụ phá cửa rồi D1 đi về và dặn H khi nào chở được bàn ghế thì gọi điện thoại cho D1, lúc này H gọi điện thoại cho Trần Quang A Khải nhờ rủ thêm người đến khiêng bàn ghế thì K1 đồng ý. Sau đó, H đến nhà ông Bùi Thanh P, ngụ tại 37, ấp Đ, xã H 3, huyện T (là cậu ruột của H) mượn 01 xe ô tô tải hiệu

Suzuki loại 500 kg (không rõ biển số) rồi H điều khiển xe chạy đến khu vực cầu "" thuộc phường H, thành phố B để đón K1. Khi gặp K1 thì K1 đang đứng cùng bạn tên L2 (chưa rõ họ, địa chỉ) nên H hỏi K1 “nhà có kìm cộng lực không để cắt khóa vì chủ nhà cầm chìa khóa rồi”, nghe vậy thì K1 đi về nhà lấy 01 kìm công lực dài khoảng 80 cm rồi K1 lên xe ô tô đi cùng với H đến nhà chị T6, còn L2 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chạy theo sau. Khi đến nơi, K1 và L2 dùng kìm công lực phá khóa cổng và khóa cửa rồi cùng H đi vào lần lượt khiêng 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 110 cm x 12 cm, kích thước chân bàn 35 cm x 65 cm; 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 98 cm x 11,5 cm, kích thước chân bàn 34 cm x 70 cm và 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 100 cm x 11 cm, kích thước chân bàn 30 cm x 65 cm để lên thùng xe ô tô rồi chở đi. Tuy nhiên, do không liên lạc được với D1 nên H điều khiển xe ô tô tải chở 03 bộ bàn gỗ trên đến nhà anh Trần Văn T8, ngụ tại xã H 3, huyện T (là anh ruột của H) rồi đậu xe trong sân nhà và H, K1, L2 đi về.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Nguyễn Thị Bích T6 đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xác minh.

Tại Bản kết luận định giá số 496/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

“01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 110 cm x 12 cm, kích thước chân bàn 35 cm x 65 cm trị giá 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng);

01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 98 cm x 11,5 cm, kích thước chân bàn 34 cm x 70 cm trị giá 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);

01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 100 cm x 11 cm, kích thước chân bàn 30 cm x 65 cm trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).

Vật chứng của vụ án:

  • 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 110 cm x 12 cm, kích thước chân bàn 35 cm x 65 cm trị giá 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng); 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 98 cm x 11,5 cm, kích thước chân bàn 34 cm x 70 cm Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chị Nguyễn Thị Bích T6.
  • 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 100 cm x 11 cm, kích thước chân bàn 30 cm x 65 cm Trần Trung H và Trần Quang A K1 khai nhận khi đậu xe ô tô chở 03 bộ bàn trong sân nhà anh Trần Văn T8 (là anh ruột của H) và đi về thì sau đó đã bị mất Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Về dân sự: chị Nguyễn Thị Bích T6 yêu cầu bồi thường 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng). Hiện Trần Trung H và Trần Quang Anh K1 chưa bồi thường.

Vụ 02: Khoảng 16 giờ ngày 02/12/2023, Đỗ Đức T1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến khu vực Đền T9, thuộc phường T, thành phố B thì gặp Vũ Quốc T4 và Trần Trung H đang ngồi chơi nên T1 rủ H và T4 cùng đi kiếm xe mô tô để trộm cắp thì cả hai đồng ý. T1 giao xe mô tô cho H điều khiển chở T1 và T4 đi đến nhà trọ không số thuộc tổ C, khu phố E, phường H, thành phố B thì T1 phát

hiện 01 xe mô tô biển số 48D1-409.34 của chị Đỗ Thị Xuân L3, ngụ tại tổ dân phố H, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đang dựng trước phòng trọ số 1 và không người trông coi. Lúc này, H dừng xe lại cùng T1 đứng bên ngoài cảnh giới cho T4 đi vào hành lang dãy nhà trọ dắt xe mô tô biển số 48D1-409.34 ra ngoài. Do không khởi động được máy nên T4 ngồi lên điều khiển xe mô tô trên, còn H điều khiển xe mô tô của T1 chở T1 dùng chân đẩy phía sau để đem xe về khu vực Đền T9. Tại đây, H gọi điện thoại cho Nguyễn Văn K3 đến để bán xe mô tô biển số 48D1-409.34, mặc dù biết đây là tài sản do H, T4 và T1 trộm cắp mà có nhưng K3 vẫn đồng ý mua với giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và H, T4, T1 chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sau đó, K3 đã bán lại xe mô tô trên cho một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch được 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 667/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 48D1-409.34 trị giá 18.136.146 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng)”

Vật chứng của vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 60B8-545.73 do Nguyễn Văn K3 đã bán cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Về dân sự: chị Đỗ Thị Xuân L3 yêu cầu bồi thường 18.136.146 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng). Hiện Trần Trung H, Đỗ Đức T1 và Vũ Quốc T4 chưa bồi thường.

Vụ 03: Khoảng 04 giờ ngày 14/12/2023, Đỗ Đức T1 đi bộ đến khu vực Đền T10 thuộc phường T, thành phố B gặp Trần Trung H và rủ H đi trộm cắp tài sản thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) chở T1 đi đến dãy nhà trọ tại số F, khu phố D, phường T, thành phố B thì T1 phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu Wave Anpha, biển số 60B8-545.73 của anh Phan Trung K5, ngụ ấp T, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau dựng trong hành lang dãy nhà trọ và không có người trông coi nên H dừng xe lại để T1 đứng cảnh giới, còn H đi vào trong dãy nhà trọ dắt xe mô tô trên ra ngoài giao cho T1 ngồi lên điều khiển rồi H điều khiển xe mô tô của H dùng chân đẩy phía sau đem xe về khu vực đền T10. Tại đây, H tháo biển số 60B8-545.73 trên xe mô tô của anh K5 đem vứt bỏ và nhặt 01 biển số xe 60B8-901.44 tại bãi đất trống gần đó gắn vào xe mô tô của anh K5. Sau đó, T1 đấu dây điện xe mô tô của anh K5 để khởi động máy rồi H điều khiển xe chở T1 đi đến tiệm game bắn cá tại phường T. Khi đến nơi thì T1 đi vào trong tiệm game trước còn H đang tìm chỗ đậu xe thì bị Công an phường T kiểm tra hành chính. Do H không xuất trình được giấy tờ xe nên Công an phường T đã mời H về làm việc, sau đó Công an phường T tạm cho H về và tạm giữ xe mô tô gắn biển số 60B8-901.44 để xác minh, xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 672/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60B8-545.73 trị giá 7.350.000 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng)”

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) biển số xe mô tô 60B8-545.73 của anh Phan Trung K5 do Trần Trung H đã vứt bỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Wave Anpha, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Phan Trung K5.

Về dân sự: anh Phan Trung K5 không yêu cầu bồi thường

Vụ 04: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Nguyễn Văn K3 điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 65P4-7920 chở Trần Trung H đi trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà số C, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B thì K3 phát hiện 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner, biển số 60F3-253.50, của anh Trần Minh T7 (ngụ tổ I, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đang dựng trên vỉa hè và không có người trông coi nên K3 dừng xe ngoài đường đứng cảnh giới và nói H đi vào lấy trộm xe mô tô trên. Nghe vậy, H đi vào dắt xe mô tô trên ra ngoài đường rồi ngồi lên điều khiển xe, còn K3 điều khiển xe mô tô của K3 dùng chân đẩy phía sau đem xe đến gửi tại bãi giữ xe của Bệnh viện N, thuộc tổ I, khu phố E, phường T, thành phố B. Sau đó, K3 điều khiển xe mô tô của K3 chở H về phòng trọ tại khu H, phường T, thành phố B rồi K3 đi về nhà.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, H và K3 hẹn gặp nhau ở trước bệnh viện N để cùng đem xe đi tiêu thụ nên H nhờ anh Chu Hoàn Viết X, ngụ tại số H, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B là người chạy xe ôm chở H đến bệnh viện N. Khi đến nơi thì H thấy K3 đã đứng đợi sẵn nên H đi vào nhà giữ xe lấy xe mô tô, biển số 60F3-253.50 đưa ra ngoài cổng bệnh viện thì bị Công an phường T kiểm tra và mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, H và K3 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nên Công an phường T đã lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt giữ Vũ Quốc T4, Trần Trung H, Nguyễn Văn K3, Đỗ Đức T1 và Trần Quang Anh K1 để điều tra, xử lý.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 666/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60F3-253.50 trị giá 15.400.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn đồng)”

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô biển số 60F3-253.50 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho anh Trần Minh T7.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Wave, biển số 65P4-7920 là phương tiện Nguyễn Văn K3 sử dụng vào việc phạm tội. Hiện nay chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ để xác minh và xử lý sau.

Về dân sự: Anh Trần Minh T7 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Quốc T4, Trần Quang Anh K1, Trần Trung H, Nguyễn Văn K3 và Đỗ Đức T1 thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt 03 bộ bàn gỗ của chị Nguyễn Thị Bích T6; 01 (một) xe mô tô biển số 60B8-545.73 của chị Đỗ Thị Xuân L3; 01 (một) xe mô tô, biển số 60B8-545.73 của anh Phan Trung K5; 01 (một) xe mô tô biển số 60F3-253.50 của anh Trần Minh T7. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như các Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B.

Chị Đỗ Thị Xuân L3 trình bày: Chị yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị xe theo kết luận định giá tài sản. Chị không có ý kiến gì về hình phạt của các bị cáo, đề nghị giải quyết theo quy định

Bản cáo trạng số 575/CT-VKSBH-HS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trần Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173; bị cáo Trần Quang Anh K1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173; bị cáo Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; bị cáo Nguyễn Văn K3 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trung H, Phạm Tiến D1, Trần Quang Anh K1 thừa nhận đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Bích T6 03 bộ bàn gỗ với tổng trị giá 61.000.000 đồng; Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 và Trần Trung H chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60B8-545.73 trị giá 18.136.146 đồng của chị Đỗ Thị Xuân L3; Đỗ Đức T1 và Trần Trung H chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 60B8-545.73 trị giá 7.350.000 đồng của anh Phan Trung K5; Trần Trung H, Nguyễn Văn K3 chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60F3-253.50 trị giá 15.400.000 đồng. Đồng thời Nguyễn Văn K3 còn tiêu thụ 01 xe mô tô biển số 60B8-545.73 trị giá 18.136.146 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Trung H, Trần Quang Anh K1, Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn K3 về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung H từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.

  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Quang A Khải từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s (áp dụng thêm điểm i đối vớ bị cáo T4) khoản 1 Điều 51; (áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo T1) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt:

Bị cáo Đỗ Đức T1 từ 01 năm 04 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù

Vũ Quốc T4 từ 01 năm tù đến 01 năm 04 tháng tù.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K3 từ 01 năm tù đến 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

- Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Trung H nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Bị cáo Trần Quang Anh K1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Bị cáo Đỗ Đức T1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện trở về gia đình.

Bị cáo Vũ Quốc T4 nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở về gia đình và làm công dân tốt.

Bị cáo Nguyễn Văn K3 nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo có đủ cơ sở xác định:

Từ ngày 22/8/2020 đến ngày 21/12/2023, Vũ Quốc T4, Trần Quang Anh K1, Trần Trung H, Nguyễn Văn K3 và Đỗ Đức T1 đã thực hiện nhiều vụ “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cụ thể như sau:

  • Ngày 22/8/2020, tại nhà không số ở tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B, Trần Trung H, Phạm Tiến D1, Trần Quang Anh K1 và đối tượng tên L2 (chưa rõ họ, địa chỉ) đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Bích T6 03 bộ bàn.
  • Ngày 02/12/2023, tại dãy nhà trọ không số thuộc tổ C, khu phố E, phường H, thành phố B, Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 và Trần Trung H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60B8-545.73 của chị Đỗ Thị Xuân L3. Sau đó, H bán lại xe mô tô trên cho Nguyễn Văn K3 với giá 6.000.000 đồng.
  • Ngày 14/12/2023, tại dãy nhà trọ số F, khu phố D, phường T, thành phố B, Đỗ Đức T1, Trần Trung H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 60B8-545.73 của anh Phan Trung K5.
  • Ngày 21/12/2023, tại nhà số C, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, Trần Trung H, Nguyễn Văn K3 đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 60F3-253.50 của anh Trần Minh T7.

[3] Tại Bản kết luận định giá số 496/KL-HĐĐGTS ngày 05/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 110 cm x 12 cm, kích thước chân bàn 35 cm x 65 cm trị giá 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng); 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 98 cm x 11,5 cm, kích thước chân bàn 34 cm x 70 cm trị giá 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); 01 bộ bàn gỗ kích thước mặt bàn 100 cm x 11 cm, kích thước chân bàn 30 cm x 65 cm trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng)”.

Bản kết luận định giá tài sản số 667/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 48D1-409.34 trị giá 18.136.146 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số 672/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60B8-545.73 trị giá 7.350.000 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số 666/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01

(một) xe mô tô biển số 60F3-253.50 trị giá 15.400.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn đồng).

[4] Do đó, hành vi của bị cáo Trần Trung H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173; bị cáo Trần Quang Anh K1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173; bị cáo Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; và bị cáo Nguyễn Văn K3 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017)

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù các bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo còn gây tâm lý bất an trong nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo Trần Trung H đã bị áp dụng tình tiết tái phạm, các bị cáo Trần Quang Anh K1, Nguyễn Văn K3, Đỗ Đức T1 đã từng bị xét xử nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để sửa đổi mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Trần Trung H là người tham gia thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 101.886.146 đồng (Một trăm lẻ một triệu tám trăm tám mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) nên có mức án cao nhất.

Trần Quang A K1 là người tham gia thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản là 61.000.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu đồng) nên có mức án cao thứ hai.

Đỗ Đức T1 là người tham gia thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản là 25.486.146 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) nên có mức án cao thứ tư.

Nguyễn Văn K3 là người tham gia thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 15.400.000 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn đồng) và tiêu thụ 01 (một) xe mô tô biển số 60B8-545.73 trị giá 18.136.146 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) nên có mức án cao thứ ba.

Vũ Quốc T4 là người tham gia thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản là 18.136.146 đồng (Mười tám triệu một trăm ba mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng) nên có mức án thấp nhất.

[6] Về nhân thân:

Bị cáo Trần Trung H có 02 tiền án và 02 nhân thân.

Trần Quang Anh K1, Nguyễn Văn K3 có 01 nhân thân.

Đỗ Đức T1 có 01 nhân thân và Vũ Quốc T4 chưa có tiền án, tiền sự

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đỗ Đức T1, Trần Trung H phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Quốc T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[9] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Buộc các bị cáo Trần Trung H và Trần Quang Anh K1 bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bích T6 số tiền 23.000.000 đồng.

+ Buộc các bị cáo Trần Trung H, Đỗ Đức T1 và Vũ Quốc T4 bồi thường cho chị Đỗ Thị Xuân L3 số tiền 18.136.146 đồng.

[10] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K3 nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính.

[11] Các vấn đề khác:

Đối với Phạm Tiến D1 hiện nay không rõ nơi cư trú và đối tượng L2 (chưa rõ họ, địa chỉ) đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý.

Đối với ông Bùi Thanh P đã cho Trần Trung H mượn 01 xe ô tô tải hiệu Suzuki loại 500 kg (không rõ biển số) nhưng không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.

Đối với anh Trần Văn T8 không biết việc Trần Trung H gửi xe ô tô tải hiệu Suzuki chở 03 bộ bàn gỗ trong sân nhà nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Trần Trung H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173; bị cáo Trần Quang Anh K1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173; bị cáo Đỗ Đức T1, Vũ Quốc T4 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; bị cáo Nguyễn Văn K3 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình (được sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[13] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Trung H, Trần Quang Anh K1, Đỗ Đức T1 và Vũ Quốc T4 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Văn K3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 22/12/2023

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt: Bị cáo Trần Quang A Khải 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015.

Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 431/2024/HS-ST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo Trần Quang Anh K1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Xử phạt:

Bị cáo Đỗ Đức T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 26/12/2023

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

Bị cáo Vũ Quốc T4 10 (mười) tháng 09 (chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 02/01/2024.

Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vũ Quốc T4 nếu bị cáo không bị giam, giữ về một tội phạm khác.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K3 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 08 (tám) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo K3 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 22/12/2023.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136; khoản 2 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc các bị cáo Trần Trung H và Trần Quang Anh K1 bồi thường cho chị Nguyễn Thị Bích T6 số tiền 23.000.000 đồng. Chia phần mỗi bị cáo là 11.500.000 đồng.

+ Buộc các bị cáo Trần Trung H, Đỗ Đức T1 và Vũ Quốc T4 bồi thường cho chị Đỗ Thị Xuân L3 số tiền 18.136.146 đồng. Chia phần bị cáo T1 bồi thường 6.136.146 đồng, H, T4 mỗi bị cáo 6.000.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn K3 nộp vào ngân sách nhà nước 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) là số tiền thu lợi bất chính.

(Số tiền được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên lai thu tiền số 0002238 ngày 24/6/2024)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, i khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Trung H, Trần Quang Anh K1, Đỗ Đức T1, Nguyễn Văn K3 và Vũ Quốc T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Trần Trung H phải nộp số tiền 875.000 đồng; bị cáo Trần Quang A K1 phải nộp số tiền 575.000 đồng; bị cáo Đỗ Đức T1 phải nộp số tiền 306.807 đồng và bị cáo Vũ Quốc T4 phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Trung H, Trần Quang Anh K1, Đỗ Đức T1, Nguyễn Văn K3, Vũ Quốc T4, bị hại chị Đỗ Thị Xuân L3 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Thị Bích T6, anh Phan Trung K5 và anh Trần Minh T7 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng

cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 599/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 599/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Trần Trung H 03 năm 06 tháng tù, Trần Quang Anh K1 03 năm tù, Đỗ Đức T1 01 năm 06 tháng tù, Vũ Quốc T4 10 tháng 09 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Nguyễn Văn K3 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 08 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger