Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 599/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Tùng.

2. Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17B/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Vũ Trường G, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số F lô D đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số F lô D đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Trần Vũ Trường G trình bày:

Ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T đăng ký kết hôn vào năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78 đăng ký ngày 14/9/2016 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn ông bà sinh sống tại địa chỉ: Số F lô D đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hai vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống khác biệt, cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2019 đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Trần Vũ Trường G nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T.
  • Về con chung: Ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T có hai con chung là Trần Nguyễn Trúc M (giới tính: nữ; sinh ngày 02/12/2016) và Trần Nguyễn Xuân L (giới tính: nam; sinh ngày 11/11/2018). Sau khi ly hôn, ông yêu cầu giao hai con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông G không cấp dưỡng cho con chung.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Ông G xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông G cam kết việc ly hôn của ông và bà T không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào và ông chỉ nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bị đơn bà Nguyễn Ngọc T trình bày:

Bà và ông Trần Vũ Trường G đăng ký kết hôn vào năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78 đăng ký ngày 14/9/2016 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống khác biệt và cách nuôi dạy con, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Bà xác định không còn tình cảm với ông G. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 đến nay.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà có ý kiến như sau:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Trần Vũ Trường G.
  • Về con chung: Ông bà có hai con chung là Trần Nguyễn Trúc M (giới tính: nữ; sinh ngày 02/12/2016) và Trần Nguyễn Xuân L (giới tính: nam; sinh ngày 11/11/2018). Sau khi ly hôn, bà yêu cầu giao hai con chung cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông G không cấp dưỡng cho con chung.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà sơ thẩm,

  • Nguyên đơn ông Trần Vũ Trường G có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến tại các bản tự khai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

+ Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Vũ Trường G:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Vũ Trường G về việc ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T.

+ Về con chung: Sau khi ly hôn, giao hai con chung là Trần Nguyễn Trúc M (giới tính: nữ; sinh ngày 02/12/2016) và Trần Nguyễn Xuân L (giới tính: nam; sinh ngày 11/11/2018) cho bà Nguyễn Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng cho con, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông G cấp dưỡng cho con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Ông G và bà T xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết nên Toà án không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn ông Trần Vũ Trường G và bị đơn bà Nguyễn Ngọc T đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ cho Toà án và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Trần Vũ Trường G nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là bà Nguyễn Ngọc T cư trú tại Quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 78, ngày 14 tháng 9 năm 2016. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nhận thấy giữa ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, cả hai không còn tình cảm với nhau, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn, bị đơn đồng ý ly hôn.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ Giấy khai sinh số 256 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/12/2016 và Giấy khai sinh số 20 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/02/2019 cùng lời khai của nguyên đơn, bị đơn có đủ cơ sở xác định ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T có hai con chung là Trần Nguyễn Trúc M (giới tính: nữ; sinh ngày 02/12/2016) và Trần Nguyễn Xuân L (giới tính: nam; sinh ngày 11/11/2018). Các đương sự thống nhất sau khi ly hôn, giao hai con chung cho bà Nguyễn Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông G cấp dưỡng cho con. Yêu cầu của các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T cùng xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Vũ Trường G phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Vũ Trường G ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 78 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 9 năm 2016.

1.2. Về con chung:

Sau khi ly hôn, giao hai con chung Trần Nguyễn Trúc M (giới tính: nữ; sinh ngày 02/12/2016) và Trần Nguyễn Xuân L (giới tính: nam; sinh ngày 11/11/2018) cho bà Nguyễn Ngọc T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông G không cấp dưỡng cho con.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Vũ Trường G và bà Nguyễn Ngọc T xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Trần Vũ Trường G phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0036749 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Vũ Trường G đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Vũ Trường G, bà Nguyễn Ngọc T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 8, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8, TP.HCM;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 599/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 599/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger