Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 599/2024/DS-PT

Ngày: 09-12-2024

V/v “Tranh chấp lối đi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Nguyễn Văn Bình;
  2. Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 674/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về lối đi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 659/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị V, sinh năm 1959; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền bà V: ông Phan Văn D, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024); có mặt.
  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    3. Ông Nguyễn Phước H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
    4. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn C là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Võ Thị V trình bày:

Chồng bà V là ông Nguyễn Văn C2 (sinh năm 1958, mất năm 2023) và ông Nguyễn Văn C là anh em họ, chung đời ông nội. Ông bà có cho cha mẹ ông C2 phần đất phía trong (tại căn nhà của ông bà nội), cho cha mẹ ông C phần đất phía ngoài. Khi đó, hai phần đất có con đường đi từ nhà của ông bà nội đi ra đường đi công cộng, rộng khoảng 05 m chiều ngang x dài hết đất cha mẹ ông C được chia tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; con đường có từ trước năm 1975. Sau khi cha mẹ chồng được cho đất thì tiếp tục cho lại vợ chồng bà và vợ chồng bà vẫn sử dụng con đường này đi lại. Năm 2022, vợ chồng ông C làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không cho gia đình bà đi con đường cũ, mà mở con đường đi có chiều ngang 02 m như hiện tại. Nhận thấy con đường như hiện tại gây khó khăn cho việc đi lại của gia đình nên bà yêu cầu mở lại lối đi có chiều ngang 04m, theo diện tích đo đạc thực tế là 172,8 m², thuộc thửa đất 833, tờ bản đồ số 04, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh như hiện trạng trước.

Tại phiên tòa, bà thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Văn C về việc trước đây đã mở con đường chiều ngang 02 m và nay cho thêm chiều ngang 01m để làm đường đi, không yêu cầu bồi thường chi phí mở lối đi. Bà tự nguyện chịu chi phí di dời chiều ngang 01 m để làm đường đi và chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản. Đối với tài sản trên con đường chiều ngang 03 m của ông C thì đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Văn D trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà V, không bổ sung gì thêm.

Bị đơn – ông Nguyễn Văn C trình bày:

Ông thống nhất về mối quan hệ và nguồn gốc hai phần của hai bên gia đình như lời trình bày của bà V. Trước đây, phần đất của gia đình ông nằm trong, còn phần đất của gia đình bà V ở ngoài nên đi qua phần đất của gia đình bà V để đi ra Xóm Đ. Sau khi giải phóng, nhà nước mở lối đi tiếp giáp phần đất của gia đình ông. Cha mẹ ông có thỏa thuận chừa cho cha mẹ chồng bà V lối đi trước của nhà để đi ra phần đất nhà nước mở sau này, không nhớ rộng bao nhiêu vì có cây cối; khi đó chỉ cho đi nhờ, không thỏa thuận cho luôn và hai bên thỏa thuận bằng lời nói. Khi đó, căn nhà của gia đình ông nằm giáp với con đường đi này nên ông dời nhà lên vị trí hiện tại. Ngày 04/02/2010, ông và bà H được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt GCNQSDĐ) số BA 070277, số vào sổ cấp GCN: CH00038 do UBND huyện G cấp đối với thửa đất số 833, diện tích 3.821,2 m² (loại ONT 200 m² và LNK 3.621,2 m²), tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Hiện tại, vợ chồng ông vẫn đang giữ bản chính GCNQSDĐ, không thế chấp cho tổ chức, cá nhân nào. Vào năm 2022, ông xây hàng rào và rào lại con đường cũ để di dời con đường trước đây đi xuống dưới cuối đất của gia đình ông để tiện cho việc sử dụng toàn bộ thửa đất thì gia đình bà V không ai ngăn cản. Ông có chừa lối đi có chiều ngang 02 m, diện tích thực tế là 105,3 m², thuộc thửa đất số 833, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh cho gia đình bà V để sử dụng như hiện tại. Do đó, ông đồng ý mở lối đi diện tích 105,3 m² cho gia đình bà V, không yêu cầu bà V bồi thường chi phí lối đi mới. Trường hợp Tòa án mở hơn 02 m thì ông yêu cầu bà V bồi thường theo giá trị đất.

Tại phiên tòa, ông đồng ý cho thêm chiều ngang 01 m để đủ 03 m cho gia đình bà V làm lối đi, không yêu cầu bà V bồi thường chi phí mở lối đi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Bà là vợ của ông C và thống nhất đối với ý kiến của ông C, không bổ sung gì thêm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh, quyết định.

Căn cứ vào các Điều 245, 246, 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 29, 133, 206 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị V đối với ông Nguyễn Văn C.
    1. Giao phần đất có diện tích thực tế là 154,1 m² (loại đất LNK), thuộc một phần thửa đất số 833, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (đất đã được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 070277, số vào sổ cấp GCN: CH00038 do UBND huyện G cấp ngày 04/02/2010 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H đứng tên) và hàng rào lưới B40 + 12 trụ xi măng (dài 52,12 m) cho gia đình bà Võ Thị V sử dụng. Phần đất có tứ cận:
      • - Phía Đông giáp thửa 833 dài 52,12 m;
      • - Phía Tây giáp thửa 833 dài 51,41 m.
      • - Phía Nam giáp thửa 833 dài 3,00 m;
      • - Phía Bắc giáp đường bê tông dài 3,00 m.

      (Kèm theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 06/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện G )

    2. Ghi nhận bà Võ Thị V tự nguyện chịu chi phí di dời hàng rào B40 + trụ bê tông đối với 01m chiều ngang còn lại.
    3. Kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 070277, số vào sổ CH00038 do UBND huyện G cấp ngày 04/02/2010 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H đứng tên để thực hiện theo phần quyết định đã tuyên như trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    4. Buộc bà Võ Thị V có nghĩa vụ đền bù giá trị hàng rào lưới B40 + 12 trụ xi măng (dài 52,12 m) là 56.446.000 (năm mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H. Bà Võ Thị V không phải bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mở lối đi đối với diện tích là 154,1 m² cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25-9-2024, ông Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm nếu mở lối đi phải bồi thường giá trị đất cho ông C.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông C trình bày: Ông yêu cầu bà V trả tiền giá trị đất cho ông C.

Bà V và người đại diện bà V trình bày: Không đồng ý trả lại tiền giá trị đất cho ông C. Do đất có nguồn gốc của ông bà để lại và tại phiên tòa sơ thẩm ông C cũng không yêu cầu bồi thường giá trị đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành tốt những quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận đơn kháng cáo của ông C. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn C kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Xét kháng cáo của ông C thì thấy rằng:
    1. Bà V, ông C thừa nhận đất ông C, bà V có nguồn gốc của ông bà để lại. Chồng bà V và ông C họ hàng với nhau có chung đầu ông. Ông bà cho cha mẹ ông C phần đất phía ngoài là phần đất có lối đi tranh chấp. Năm 2010, vợ chồng ông C làm thủ tục cấp GCNQSDĐ số BA 070277, số vào sổ CH00038 (CN) đối với thửa đất số 833, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Cha mẹ chồng bà V được cho phần đất phía trong, có căn nhà của ông bà và thuộc các thửa số 128, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
    2. Qua xác minh tại địa phương những người sống gần đất cung cấp: Từ phần đất của gia đình bà V có con đường đi qua phần đất của gia đình ông C để đi ra ngoài đường công cộng, con đường có diện tích khoản 4-5 mét cách đây 50 năm. Đến năm 2022, ông C dời con đường đi sang phần đất như hiện tại. Ông C cho rằng khi di dời con đường sang phần đất như hiện tại, khi đó vợ chồng bà V không có ý kiến. Quá trình giải quyết và xác minh, bà V và những người làm chứng đều thống nhất không có sự ngăn cản. Tại phiên tòa, ông C đồng ý chừa thêm chiều ngang 01 m cho gia đình bà V sử dụng làm lối đi, không yêu cầu bồi thường chi phí mở lối đi. Bà V thống nhất đối với ý kiến của ông C về việc mở lối đi có chiều ngang 03 m theo như con đường hiện tại đang sử dụng và tự nguyện chịu chi phí di dời hàng rào lưới B40 + trụ xi măng để mở con đường thêm chiều ngang 01 m. Nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà V. Buộc ông Nguyễn Văn C mở con đường có chiều ngang 03m, thuộc thửa đất số 833, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận ông C và bà H không yêu cầu bà V bồi thường chi phí mở lối đi. Buộc bà V có nghĩa vụ bồi thường hàng rào B40 + 12 trụ bê tông (dài 52,12 m) do vợ chồng ông C xây dựng là 56.445.960 đồng (làm tròn 56.446.000 đồng) nằm trên phần diện tích lối đi là có căn cứ.

Ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.

  1. Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của ông C. Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông C kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào các Điều 245, 246, 254 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 29, 133, 206 của Luật Đất đai năm 2024; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn C.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 188/2024/DS-ST ngày 11-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị V đối với ông Nguyễn Văn C.
  4. Giao phần đất có diện tích thực tế là 154,1 m² (loại đất LNK), thuộc một phần thửa đất số 833, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (đất đã được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 070277, số vào sổ cấp GCN: CH00038 do UBND huyện G cấp ngày 04/02/2010 cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H đứng tên) và hàng rào lưới B40 + 12 trụ xi măng (dài 52,12 m) cho gia đình bà Võ Thị V sử dụng làm lối đi.

    Phần đất có tứ cận:

    • - Phía Đông giáp thửa 833 dài 52,12 m;
    • - Phía Tây giáp thửa 833 dài 51,41 m.
    • - Phía Nam giáp thửa 833 dài 3,00 m;
    • - Phía Bắc giáp đường bê tông dài 3,00 m.

    (Kèm theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 06/8/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh huyện G )

  5. Ghi nhận bà Võ Thị V tự nguyện chịu chi phí di dời hàng rào B40 + trụ bê tông đối với 01 m chiều ngang còn lại.
  6. Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 070277, số vào sổ CH00038 do UBND huyện G cấp ngày 04/02/2010 cho ông Nguyễn Văn C để xác lập quyền sử dụng thửa đất hạn chế đất liền kề theo quyết định của bản án này.
  7. Buộc bà Võ Thị V có nghĩa vụ đền bù giá trị hàng rào lưới B40 + 12 trụ xi măng (dài 52,12 m) là 56.446.000 (năm mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H. Bà Võ Thị V không phải bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mở lối đi đối với diện tích là 154,1 m² cho ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0014419 ngày 25-9-2024, của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  10. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKTNV&THA;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Gò Dầu;
  • - CCTHADS huyện Gò Dầu;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 599/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 599/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger