|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 597/2024/DS-PT
Ngày: 30/9/2024
“V/v tranh chấp dân sự về ranh
giới QSD đất, QSD đất.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Kim Xuân;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vĩnh;
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thái Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 tháng 9 năm 2024, 27 tháng 9 năm 2024 và 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 352/2024/TLPT- DS, ngày 15 tháng 7 năm 2024, về “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 532/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 575/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 8 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 249/2024/QĐPT-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024; giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1942 (đã chết ngày 09/6/2023);
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1936 (chồng bà L);
Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1970 (con bà L);
Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1966 (con bà L);
Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1968 (con bà L);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1972 (con bà L);
Địa chỉ: Tổ B, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1974 (con bà L);
Địa chỉ: Số G, Khu phố C, Đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1977 (con bà L);
Địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim V, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu T1, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Đ: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2022, 04/10/2022, 13/7/2023, 28/7/2023, 11/7/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Hữu P: Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1972 – Luật sư Chi nhánh Công ty L2 và Cộng Sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ;
Địa chỉ: Đường N, khóm M, phường M, huyện C, tỉnh Đông Tháp.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1955;
Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn M: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Số G, ấp V, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Văn bản ủy quyền ngày 21/12/2020).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1936;
Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1970;
Anh Nguyễn Phúc H1, sinh năm 2001 (con của anh P);
Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim V, anh Nguyễn Phúc H1: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số C, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp;
(Văn bản ủy quyền ngày 25/6/2021, 07/02/2022, 04/10/2022).
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Lam Minh N1 – Chủ tịch
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Huỳnh Thị Thu L1, sinh năm 1959;
Bà Nguyễn Phúc D, sinh năm 1981;
Ông Nguyễn Văn Bé N2, sinh năm 1987;
Bà Nguyễn Kim T3, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
-
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn M, là bị đơn.
(Ông P, ông Đ1, Luật sư T2 có mặt; Bà L1, bà D, ông Bé N2, bà T3, đại diện Ủy ban nhân dân huyện L vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các đơn khởi kiện bổ sung, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị L và ông Nguyễn Hữu P (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đại diện người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà L), ông Nguyễn Tấn T2, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông ông P, ông T trình bày:
Ông Nguyễn Văn T và ông Nguyễn Văn M là anh em ruột. Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Trần Thị Y (mẹ ruột) tặng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Lê Thị L từ trước năm 1979. Sau khi được tặng cho, ông T, bà L xây dựng nhà ở và trồng cây ăn trái trên phần đất này từ trước năm 1979. Lúc đầu, ông T, bà L cất nhà gỗ tạp. Năm 1992, ông T, bà L sửa chữa nhà kiên cố như hiện nay. Đồng thời, trong năm 1992, ông T, bà L xây dựng thêm 01 (một) nhà tắm; 01 (một) chuồng heo (hiện chuồng heo đã hư hỏng, chỉ còn lại bó nền), trồng thêm 06 cây cau kiểng (khoảng 20 năm tuổi).
Quá trình sử dụng đất, bà L đã đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 22/4/1998 thửa 1610, tờ bản đồ 2, diện tích 300m² đất T và sử dụng liên tục, ổn định đến nay. Hộ ông M và cụ Y khi còn sống cũng không có ý kiến.
Liền kề thửa đất 1610 của bà L là thửa đất số 1304 của hộ ông M. Trong quá trình sử dụng, trước đây giữa ông T, bà L với hộ ông M có xác định ranh đất giữa hai bên bằng 02 trụ đá ranh và bà L có trồng hàng cây gòn làm ranh chung. Đến năm 2012, ông M tự ý nhổ 01 trụ đá và đốn hàng cây gòn, ông T, bà L ngăn cản, nhưng ông M vẫn lấn chiếm. Sau đó, ông M tranh chấp với bà L tại xã T. Tại UBND xã T, ông M yêu cầu bà L trả lại toàn bộ thửa đất số 1610, vì ông M cho rằng toàn bộ thửa đất số 1610 là của ông M cho bà L, ông T ở nhờ. Cuộc hòa giải không thành nhưng sau đó ông M không khởi kiện tranh chấp với bà L.
Đến cuối năm 2020, ông M cho làm mộ chôn cất cháu của ông M trên phần đất của bà L, bà L ngăn cản, nhưng do UBND xã động viên nên bà L đã đồng ý cho ông M chôn cháu trên phần đất của bà L.
Hiện hộ ông Nguyễn Văn T đang sử dụng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 371m²; trong đó: Phần tranh chấp thứ nhất diện tích 268,8m² thể hiện tại các mốc: M1, M2, M3, M4, M5, M6, M11, M12, M13, M14, M 15 về M1; phần tranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thể hiện tại các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 (thuộc thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên). Do bà L đã thống nhất cho ông M chôn cháu của trên phần tranh chấp, do đó những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L thống nhất yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 1610 của bà L với thửa đất số 1304 của hộ ông M là đường thẳng nối từ mốc M16 đến mốc M17 thể hiện trên Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 07/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. (Thống nhất phần đất có mộ của cháu ông M và phần nền chuồng heo của bà L thuộc về đất ông M).
Theo đơn phản tố, đơn phản tố bổ sung, lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn M, có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:
Hiện ông Nguyễn Văn M đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1319 (Thửa được cấp trên giấy là thửa 95 tờ bản đồ số 2A). Nguồn gốc thửa 1319, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là của ông bà ông M để lại cho cha mẹ ông M từ rất lâu, diện tích đất ngang giáp Tỉnh lộ 848 khoảng 14 mét, chiều ngang giáp kênh C khoảng 11 mét, chạy dài từ Tỉnh lộ 848 đến rạch C. Năm 1993, ông M đi kê khai và được UBND huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B226382, số vào số 01107 diện tích 1.200m² thuộc thửa 95, tờ bản đồ 2A (Thửa đúng 1319, tờ bản đồ số 2) tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho hộ ông Nguyễn Văn M vào ngày 20/01/1993. Đến năm 1995, ông M có cho bà Lê Thị L phần đất để cất nhà ở nhờ với cam kết khi nào cần thì ông M lấy lại. Quá trình sử dụng, bà L tự ý mở rộng xây dựng thêm chuồng heo, nhà tắm trên phần đất của ông M. Đến năm 2009, khi ông M đi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang bản đồ địa chính chính quy thì cán bộ địa chính xã không thể làm thủ tục cấp đổi cho cho ông M vì phát hiện một phần đất đã được cấp cho bà Lê Thị L, nếu ông M muốn cấp đổi thì phải bỏ 300m² đất đã cấp cho bà L. Thấy việc cho bà L ở nhờ mà buộc ông M phải cắt khoán cho bà L, nên ông M không đồng ý. Từ đó, hai bên phát sinh mâu thuẫn, bà L tuyên bố là đất bà sử dụng đã được cấp giấy. Sau đó ông M có làm đơn gửi đến UBND xã T để yêu cầu giải quyết. Sau nhiều lần UBND xã T và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện giải quyết ông M đều không đồng ý. Đến năm 2012, ông M có làm đơn khiếu nại đến UBND huyện L về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Lạc T4 với vị trí đất ông quản lý. Tuy nhiên, UBND huyện đã bác đơn khiếu nại của ông M vì không có việc cấp trùng.
Nay ông M có yêu cầu phản tố như sau:
- Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa B678457, số vào sổ 02722, thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đất đã được UBND huyện L cấp cho Lê Thị L vào ngày 24/4/1998, lý do cấp sai đối tượng.
- Yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà L trả lại toàn bộ thửa đất số 1610 (Trong đó phần tranh chấp thứ nhất diện tích 268,8m² thuộc các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M11, M12, M13, M14, M 15 về M1 và phần tranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thuộc các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 (theo Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023) đất thuộc thửa số 1610, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên.
- Yêu cầu hộ gia đình bà Lê Thị Lạc di D1 nhà cửa, vật kiến trúc trên đất ra khỏi phần đất tranh chấp. Ông M đồng ý hỗ trợ chi phí di dời là 30.000.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã tuyên xử:
“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M đối người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L gồm: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu T1, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Nguyễn Hữu P.
Về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Lê Thị L, yêu cầu người thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L trả lại toàn bộ thửa đất số 1610 (Trong đó phần tranh chấp thứ nhất diện tích 268,8m² thuộc các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M11, M12, M13, M14, M 15 về M1 và phần tranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thuộc các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L gồm: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu T1, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Nguyễn Hữu P về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với hộ ông Nguyễn Văn M gồm: Ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Thu L1, chị Nguyễn Phúc D, anh Nguyễn Văn Bé N2, chị Nguyễn Kim T3 giao trả lại cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L gồm: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Kim V, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu T1, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Nguyễn Hữu P diện tích lấn chiếm là 102,2m² được thể hiện ở các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 thuộc một phần của thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 02 do Lê Thị L đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 1304, tờ bản đồ số 02 do hộ ông Nguyễn Văn M đứng tên quyền sử dụng đất là:
Nối mốc M16 đến M17 thành đường thẳng là ranh giới quyền sử dụng đất giữa các thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 02 do Lê Thị L đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 1304, tờ bản đồ số 02 do hộ ông Nguyễn Văn M đứng tên quyền sử dụng đất.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/3/2023, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 14/6/2023 và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 284/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện Lấp Vò ngày 07/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo).
Ranh giới quyền sử dụng đất được xác định nên người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời.
Hộ ông Nguyễn Văn M gồm: Ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Thu L1, chị Nguyễn Phúc D, anh Nguyễn Văn Bé N2, chị Nguyễn Kim T3 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị L gồm ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Kim N, ông Nguyễn Hữu T1, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Kim Đ, ông Nguyễn Hữu P được đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục kê khai biến động quyền sử dụng đất diện tích theo bản án của Tòa án.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/3/2023, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 14/6/2023 và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 284/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện Lấp Vò ngày 07/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn M được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn M phải chịu 3.911.000 đồng . Số tiền này anh Nguyễn Hữu P đã tạm và đã chi xong. Ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả lại cho anh Nguyễn Hữu P 3.911.000 đồng.”
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/6/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn M kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn Đ1, đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông M giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa B 678457, số vào sổ 02722, thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m² đất T, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện L cấp cho Lê Thị L vào ngày 24/4/1998, lý do cấp sai đối tượng.
- Yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà L trả lại toàn bộ thửa đất số 1610, tờ bản đồ 02 (Trong đó phần tranh chấp thứ nhất diện tích 268,8m² thuộc các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M11, M12, M13, M14, M 15 về M1 và phần tranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thuộc các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 (Theo sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023) đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên giấy chứng nhận QSD đất.
- Yêu cầu hộ gia đình bà Lê Thị Lạc di D1 nhà cửa, vật kiến trúc trên đất ra khỏi phần đất tranh chấp. Ông M đồng ý hỗ trợ chi phí di dời cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:
Căn cứ lời khai của ông M tại Bản án phúc thẩm số 122/2007/DS-PT ngày 03/4/2007, vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bị đơn ông Tô Văn C (ông Đ1 trình bày trong đơn kháng cáo và cung cấp bản án số 122 tại phiên tòa phúc thẩm), trong đó ghi lời trình bày của ông T: “Trước kia vợ chồng bà L và ông T cất nhà trên phần đất của ông Tô Văn T5 ở để trông giữ mồ mả và trồng cây, năm 1995 nhà của vợ chồng bà L hư nên bà L xin ông M phần đất để cất nhà ở”. Trong khi đó, phần đất bà L ở nhờ trên, ông M được cấp giấy chứng nhận QSD đất là thửa 95, tờ bản đồ 2A (thuộc khoanh bao 1319) diện tích 300m² đất thổ (T). Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét chứng cứ này mà căn cứ lời khai của những người làm chứng (Trương Anh K, Vương Thị C1, Phan Văn Ú) để xác định thời điểm ông M, bà L ở trên đất từ 1979 là không có căn cứ, không đúng sự thật. Theo Đơn xin đăng ký cấp quyền sử dụng đất của bà Lê Thị L ngày 19/3/1998, thể hiện số thửa xin đăng ký là 1610/1304, Ủy ban xã xác nhận diện tích thổ nằm trong thửa khoanh bao đã đo đạc thực tế, mặt sau của Đơn có kèm trích vẽ thể hiện thửa 1610 trong thửa khoanh bao 1304, thửa 1304 tách biệt thửa 1319. Trong quá trình giải quyết vụ án, các tài liệu, chứng cứ mà các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương có nhiều sự xác nhận khác nhau về vị trí số thửa, tờ bản đồ nên Hội đồng xét xử sơ thẩm có những nhận định không khách quan: Lúc thì xác định thửa 95 thuộc thửa khoanh bao 1319, lúc thì xác định thuộc thửa khoanh bao 1304. Năm 2006, ông M tranh chấp ranh với bà C1, giữa ông M, bà C1 xác định ranh với nhau, không có mời bà L, ông T xác định ranh. Năm 2007, theo Sơ đồ vụ án tranh chấp giữa Nguyễn Văn T, Tô Văn C không có thửa 1610 trên Sơ đồ tranh chấp. Năm 2009, ông M khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà L thì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L xác định thửa 1319 của ông M và thửa 1610 của bà L là hai thửa tách biệt nhau nhưng không có chứng cứ chứng minh tách biệt trên sổ sách hay trên thực tế. Ông Đ1 cho rằng thửa 1610 cấp trùng vị trí thửa 95 của ông M.
Ông Nguyễn Hữu P trình bày: Không thống nhất kháng cáo của bị đơn, đề nghị y án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, ông T là Luật sư Nguyễn Tấn T2 trình bày:
Ông M cho rằng đất bà L tranh chấp ranh có nguồn gốc cha mẹ cho ông M, ông M cho bà L ở nhờ là không có căn cứ. Ông M và ông T (chồng bà L) là anh em ruột. Lời trình bày phía bà L, người làm chứng của bà L: Cha mẹ cho mỗi người một phần: ông M giáp sông, ông T (bà L) giáp lộ. Do đó, có căn cứ bà L, ông T ở trên đất từ năm 1979, liên tục đến năm 1992 thì sửa chữa nhà. Các Công văn cung cấp thông tin của của cơ quan có thẩm quyền xác định không cấp trùng vị trí thửa 1610 và thửa 95. Việc bị đơn viện dẫn lời trình bày của ông M trong Bản án 122/2007/DS-PT ngày 03/4/2007 làm căn cứ giải quyết vụ án trong khi bản án trên, vụ án trên án bị hủy, sửa nhiều lần, là không có căn cứ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến (Có bài phát biểu kèm theo):
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Công văn cung cấp thông tin của cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai do Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu, hỏi tại phiên tòa, xét thấy: Kháng cáo của bị đơn không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Hộ ông M gồm bà L1, bà D, ông Bé N2, bà T3, đại diện Ủy ban nhân dân huyện L vắng mặt. Xét sự vắng mặt của những người liên quan này không ảnh hưởng đến việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử tiến hành hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn, ông Nguyễn Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Nguồn gốc đất tranh chấp các đương sự thống nhất là của mẹ (bà Trần Thị Y). Tuy hai bên không thống nhất thời gian ông T, bà L ở trên đất (nguyên đơn khai ở từ 1979, bị đơn cho rằng nguyên đơn ở từ 1995), tuy nhiên hai bên thống nhất: Khoảng 1992, bà L, ông T xây nhà kiên cố và ở liên tục, quá trình sử dụng bà L làm thêm các công trình phụ như nhà bếp, mái che, nhà tắm, chuồng heo và nhiều cây ăn trái,... nhưng H2 ông M và bà Y không tranh chấp với Hộ bà L. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận tình tiết này.
[2.2] Quá trình sử dụng đất, bà L có đăng ký kê khai và được cấp Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 22/4/1998 số bìa B 678457, số vào sổ 02722, thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m² đất T, đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
[2.3] Ông M cho rằng thửa 1610 cha mẹ cho ông, ông cho bà L ở nhờ từ 1995 nhưng không có chứng cứ chứng minh việc ông M cho bà L ở nhờ và cam kết “khi nào cần thì ông M lấy lại”. Bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 22/4/1998. Riêng đối với ông Nguyễn Văn M, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Ông M được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là huyện L) cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/01/1993, số bìa B 226382, số vào sổ 01107 QSDĐ/B1 tổng diện tích 6.000m², trong đó có thửa 95, tờ bản đồ 2A diện tích 1.200m² (300 m² đất T, 900m² đất lâu năm). Ông M cho rằng, ông biết bà L được cấp giấy chứng nhận QSD đất từ 2009, cho rằng phần đất bà L được cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 1998 (300m² đất T, thửa 1610), trùng vị trí thửa 95 (300m² đất T) của ông. Ông M có khiếu nại từ 2009, tuy nhiên, cơ quan quản lý đất đai xác minh và xác định là không có việc cấp QSD đất trùng. Ông M có nhận kết quả trả lời khiếu nại nhưng không tiếp tục khiếu nại, cũng không khởi kiện.
[2.4] Ngoài ra, tại các Biên bản hòa giải ở địa phương, thể hiện trong hồ sơ vụ án: Biên bản ngày 24/8/2016 (V/v không xác định được ranh giới thửa đất- bút lục 232) ông M yêu cầu xác định ranh đất với bà L là sau nhà tắm của bà L. Tại Biên bản ngày 19/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (V/v hòa giải tranh chấp ranh đất- bút lục 02, 03), thể hiện ông M là nguyên đơn, yêu cầu: Xác định lại ranh đất giữa ông và bà L, ông M yêu cầu “Lấy lại đường đi phía dưới hoặc phía trên, từ ranh đất của tôi ra Tỉnh lộ 848, ngang là 3m”. Trong Biên bản, ông M không tranh chấp QSD đất thửa 1610, không yêu cầu Hộ bà L di dời trả đất ở nhờ cho ông. Khi ông M chôn cháu trên đất bà L đang sử dụng năm 2020, bà L khởi kiện tranh chấp ranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thể hiện tại các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 (thuộc thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên). Do bà L đã thống nhất cho ông M chôn cháu của trên phần tranh chấp, do đó những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà L đang sử dụng là của bà L.
[2.5] Đối với trình bày của ông Đ1, người đại diện theo ủy quyền của ông M tại phiên tòa phúc thẩm:
[2.5.1] Ông Đ1 cung cấp Bản án 122/2007/DS-PT ngày 03/4/2007, vụ án Tranh chấp QSD đất và bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bị đơn ông Tô Văn C, trong đó ghi lời trình bày của ông T “Trước kia vợ chồng bà L và ông T cất nhà trên phần đất của ông Tô Văn T5 ở để trông giữ mồ mả và trồng cây, năm 1995 nhà của vợ chồng bà L hư nên bà L xin ông M phần đất để cất nhà ở”. Tài liệu này, không được cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm. Mặt khác, Bản án này không đủ căn cứ chứng minh việc ông M cho bà L, ông T ở nhờ trên đất, trong khi quá trình bà L, ông T sử dụng đất, ông M không khởi kiện tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, cho đến khi bà L tranh chấp ranh thì ông mới yêu cầu phản tố.
[2.5.2] Đối với các Công văn cung cấp thông tin của cơ quan có thẩm quyền, ông Đ1 cho rằng có sự không chính xác, cụ thể:
- Theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp giữa nguyên đơn Lê Thị L và bị đơn Nguyễn Văn M ngày 07/8/2023 (Theo Biên bản thẩm định bổ sung ngày 09/6/2023) của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, phần ghi chú thể hiện: “Trích đo thửa 1610, 1319, tờ bản đồ 299, đối chiếu sang bản đồ chính quy là thửa 72, tờ bản đồ 25.
- Tại Công văn 226/UBND ngày 06/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin: “Qua kiểm tra trên giấy chứng nhận QSD đất đối chiếu với bản đồ địa chính giải thửa 299, Số Mục kê đất đai, thửa 1304, tờ bản đồ số 2 là thửa đất khoanh bao, gồm nhiều hộ gia đình, cá nhân có đất trong thửa đất trên, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn M.
Diện tích 926,7m² thể hiện tại các mốc: M16-M7-M18-M19-M20-M21- M22-M23-M24-M8-M17-M16 (Sơ đồ ngày 07/8/2023) đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Nguyễn Văn M. Qua kiểm tra giấy chứng nhận QSD đất thể hiện thửa 95, tờ bản đồ 2A, qua đối chiếu vị trí thực tế đang sử dụng trên bản đồ địa chính 299, thuộc thửa 1304, tờ bản đồ số 02.
- Tại Công văn 2267/CNVPĐKĐĐHLV-KTĐC ngày 14/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp thông tin: Theo Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thể hiện:
Phần đất tranh chấp diện tích 268,8m² được thể hiện ở các mốc M1- M2- M3-M4-M5-M6-M11-M12-M13-M14-M15-M1 thuộc thửa đất 1610, tờ bản đồ số 2 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận QSD đất cho Lê Thị L ngày 22/4/1998.
Phần đất đang tranh chấp diện tích 926,7m² được thể hiện ở các mốc: M16- M7-M18-M19-M20-M21-M22-M23-M24-M8-M17-M16 thuộc một phần thửa đất số 1304, tờ bản đồ số 2 xã T (thửa đất số 1304 là thửa khoanh bao gồm nhiều chủ sử dụng đất).
- Tại Đơn xin đăng ký cấp quyền sử dụng đất của bà Lê Thị L ngày 19/3/1998, thể hiện số thửa xin đăng ký là 1610/1304, Uỷ ban xã xác nhận diện tích thổ nằm trong thửa khoanh bao đã đo đạc thực tế, mặt sau của Đơn có kèm trích vẽ thể hiện thửa 1610 trong thửa khoanh bao 1304, thửa 1304 tách biệt thửa 1319.
[2.5.3] Do đó, để có căn cứ giải quyết vụ án chính xác, đúng quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã có Công văn 1513/TA-DS ngày 16/9/2024 đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, Ủy ban nhân dân huyện L cung cấp thông tin kèm tài liệu và chứng cứ. Tòa án T6 đã nhận được văn bản cung cấp thông tin là Công văn 5033/CNVPĐKĐĐHLV-KTĐC ngày 25/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L và Công văn 287/UBND-NC ngày 27/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện L xác định: Thửa 1610 tờ bản đồ 2 của bà L và thửa 95, tờ bản đồ 2A của ông M đều thuộc thửa khoanh bao 1304, nay là thửa 72 tờ bản đồ 25 bản đồ địa chính chính quy. (Không xác định thửa 1610 và thửa 95 cùng vị trí). Qua xem xét diện tích đất đo đạc thực tế của bà L, ông M trên Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023, đối chiếu Công văn cung cấp thông tin của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L (Công văn 5033/CNVPĐKĐĐHLV-KTĐC ngày 25/9/2024), phần diện tích đất thực tế gia đình bà L đang sử dụng tổng diện tích là 371m² (268,8m² + 102,2m²) nhiều hơn so với giấy chứng nhận QSD đất là Lạc được cấp 71m²; phần đất ông M đang quản lý, sử dụng diện tích 926,7m² (bao gồm phần đất có ngôi mộ của cháu ông M và bó nền chuồng heo của bà L) thiếu 273,3m² so với giấy chứng nhận QSD đất ông M được cấp. Tuy nhiên, cơ quan chuyên môn cũng cung cấp thông tin: Diện tích đất thửa (của bà L) hay thiếu (của ông M) so với giấy chứng nhận QSD đất hai bên được cấp, lý do ranh giới thửa đất có biến động do hai bên tự xác định ranh giới thửa đất. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về xác định ranh đất giữa thửa 1610 và thửa 95 là đường thẳng nối mốc M16 và M17 là có căn cứ.
[2.5.4] Ngoài ra, lời trình bày của ông Đ1 tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/9/2024: Người dân (ông M) không biết thủ tục cấp đất, xác định thửa của cơ quan quản lý đất đai thế nào, chỉ biết sử dụng đất. Thực tế, ông M không có sử dụng thửa 1610 mà do gia đình bà Lạcsử dụng. Mặt khác, việc ông M có khiếu nại, đã nhận được kết quả giải quyết khiếu nại nhưng không tranh chấp về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà M. Tại phiên tòa cấp sơ thẩm, ông Đ1 yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà L thửa 1610, khi kháng cáo lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà M vì cấp sai đối tượng. Tuy nhiên, bị đơn không có chứng cứ chứng minh các yêu cầu phản tố của mình. Trong khi quá trình sử dụng đất của gia đình bà L là liên tục, ổn định, không có tranh chấp cũng như không có khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất.
[2.6] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn (bà L), không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (ông M) là có căn cứ. Bị đơn (ông M) kháng cáo nhưng không có căn cứ, chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của ông M, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, cần điều chỉnh cách tuyên án cho khoa học, dễ hiểu, dễ thi hành.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông M được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật (do là người cao tuổi).
[4] Xét trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, ông P là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các phần khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308, Điều 92, Điều 148, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 12, 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
Căn cứ vào các Điều 166, Điều 175 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 179 và Điều 203 Luật đất đai;
Căn cứ vào các Điều 5; Điều 6; khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 165; Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L về xác định ranh đất.
-
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn M, về:
- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa B 678457, số vào sổ 02722, thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 2, diện tích 300m², đất thổ (T), đất tọa lạc tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, được UBND huyện L cấp cho Lê Thị L vào ngày 24/4/1998, lý do cấp sai đối tượng.
- Yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà L trả lại toàn bộ thửa đất số 1610 (Trong đó, phần tranh chấp thứ nhất diện tích 268,8m² thuộc các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M11, M12, M13, M14, M 15 về M1 và phần tranh chấp thứ hai diện tích 102,2m² thuộc các mốc M6, M16, M17, M9, M10, M11 về M6 (theo Sơ đồ đo đạc ngày 07/8/2023) đất thuộc thửa số 1610, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do Lê Thị L đứng tên.
- Yêu cầu hộ gia đình bà Lê Thị Lạc di D1 nhà cửa, vật kiến trúc trên đất ra khỏi phần đất tranh chấp. Ông M đồng ý hỗ trợ chi phí di dời là 30.000.000 đồng.
-
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 1610, tờ bản đồ số 02 do Lê Thị L đứng tên quyền sử dụng đất với thửa đất số 95, tờ bản đồ số 02A do ông Nguyễn Văn M đứng tên quyền sử dụng đất: Là đường thẳng nối từ mốc M16 đến mốc M17 theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 284/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện L năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, xác nhận ngày 07/8/2023.
Các bên được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất. Tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chịu chi phí (nếu có).
(Có Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/3/2023, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 14/6/2023 và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 284/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện L năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, xác nhận ngày 07/8/2023, kèm theo).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
-
Về chi phí tố tụng khác: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là 3.911.000 đồng. Ông Nguyễn Văn M phải chịu chi phí trên. Số tiền này ông Nguyễn Hữu P đã tạm nộp và đã chi xong. Buộc ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ nộp lại số tiền 3.911.000 đồng (Ba triệu chín trăm mười một nghìn đồng) để hoàn trả lại cho ông Nguyễn Hữu P.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các phần khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Kim Xuân |
Bản án số 597/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất
- Số bản án: 597/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị L - Nguyễn Văn M
