|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 597/2024/HSST Ngày: 08/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam
Bà Vương Thị Khánh Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 610/2024/HSST ngày 17/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 602/2024/QĐXXST-HS ngày 23/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1993, tại Đồng Nai.
Nơi ĐKTT: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Nơi ở trước khi bị bắt: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12 - Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Lê Văn Q, sinh năm 1970 (Còn S) và bà Võ Thị Mộng T1, sinh năm 1968 (Còn Sống). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Lê Thị Mỹ T2 – sinh năm: 1999 và có 01 con sinh ngày 11/7/2024. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Bị hại: Anh Trần Ngọc T3, sinh năm 1992
Địa chỉ: 8, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Viết T4, sinh năm 1990
- Địa chỉ: Tổ B, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Dương Văn K, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- + Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 2001
- Địa chỉ: C, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T và Trần Ngọc T3 (sinh năm 1992, thường trú tại: 8, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) cùng là công nhân lái xe nâng làm chung tại kho Bách Hóa X, thuộc công ty T5 địa chỉ T, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc do tính nhầm sản lượng bia nên giữa T và T3 phát sinh mâu thuẫn, cả hai hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn.
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, T mang theo 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài 25cm, mũi nhọn. Khi T điều khiển xe mô tô biển số 78G1-387.63 ra đến cổng công ty thì gặp T3 đang đứng nói chuyện với anh Nguyễn Viết T4 (Anh T4 thấy T3 và T hẹn nhau tại cổng công ty nên ra nói chuyện khuyên can T3) thì T dừng xe lại và ngồi trên xe mô tô và cầm sẵn cây kéo nêu trên bên tay phải. Thấy T cầm kéo T3 cho rằng T cầm kéo để đâm mình nên T3 đi đến để đá vào tay cầm kéo của T nhưng do T rụt tay lại nên trúng vào đùi của T. Lúc này T3 và T lao vào dùng tay đánh nhau và ôm nhau vật lộn dưới đường. Khi T3 ôm vật Tĩnh ở trong tư thế T3 ngồi đè nên trên bụng của T còn T nằm phía dưới. Lúc này T3 ngồi trên và dùng hai tay đánh nhiều cái vào mặt và đầu của T. Bị T3 đánh nên T cầm kéo đâm T3 05 cái trúng vào trán, mi mắt trái, má trái, lưng và bả vai trái của T3 gây thương tích. Lúc này, anh T4 và các anh Dương Văn K, Nguyễn Quang L cùng chạy đến can ngăn nên cả hai dừng lại. T cầm kéo lên xe bỏ đi còn T3 được anh T4 đưa đến Phòng khám Đ - S điều trị. Sau đó Phòng khám Đ - S chuyển T3 đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị.
Quá trình điều tra Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0217/KLTTCT ngày 12/3/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận anh Trần Ngọc T3 bị tổn thương như sau:
- Sẹo vùng trán trái ngoài chân tóc kích thước 02x0,2cm. Tỷ lệ: 03%
- Sẹo mi trên mắt trái (cung mày trái) kích thước 2,5x0,2cm. Tỷ lệ: 03%
- Sẹo má trái kích thước 01x0,2cm. Tỷ lệ: 03%
- Sẹo bả vai trái kích thước 1,3x0,3cm. Tỷ lệ: 01%
Sẹo lưng phải cạnh cột sống ngực kích thước 4,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%
Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đính pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Ngọc T3 -1992 tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Vật gây thương tích: Vật sắc hoặc vật sắc nhọn.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn T đã bồi thường số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) chi phí điều trị cho anh Trần Ngọc T3 và bị hại T3 đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với T.
Vật chứng vụ án:
- - Đối với 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài 25cm, mũi nhọn. Sau khi gây án Lê Văn T bỏ vào hộc trước của xe mô tô trên đường đi đã bị rơi mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được.
- - Đối với 01 xe mô tô biển số 78G1-387.63 do chị Lê Thị Mỹ T2 (là vợ của Lê Văn T), giao cho T để làm phương tiện đi lại. Chị T2 không biết việc T sử dụng xe đi đánh nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ.
Tại bản cáo trạng số 593/CT/VKS-HS ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 20 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Đối với Trần Ngọc T3 có hành vi đánh nhau với Lê Văn T, Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
[3] Khoảng 21 giờ 15 ngày 19/12/2023, tại Công ty T5 địa chỉ T, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do có mâu thuẫn trong quá trình làm việc tại công ty N Lê Văn T và Trần Ngọc T3 hẹn gặp nhau giải quyết mâu thuẫn. T cầm theo 01 cây kéo bằng kim loại màu đen dài 25cm, mũi nhọn đi ra gặp T3, thấy T cầm kéo trên tay thì T3 đi đến dùng chân đá vào người T3. Sau đó cả hai ôm nhau vật lộn xuống đường, trong lúc vật lộn T3 dùng hai tay đấm nhiều cái vào mặt của T. Bị đánh T cầm kéo đâm trúng vào trán, mi mắt trái, má trái, lưng và bả vai trái của T3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 11% (Mười một phần trăm).
[4] Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị và được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, người bị hại cũng có một phần lỗi (bị hại chặn đường đánh bị cáo trước), bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy bị cáo Lê Văn T có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tạm giam bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện đang nuôi con nhỏ, từ trước khi phạm tội bị cáo chấp hành tốt các quy định pháp luật, không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội do có một phần lỗi của bị hại, tại phiên tòa bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình. Do đó xét thấy không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nữa mà áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo, cũng như thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn T đã tự nguyện bồi thường 17.000.000đ (Mười bảy triệu đồng) chi phí điều trị cho anh Trần Ngọc T3. Anh Trần Ngọc T3 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không đặt ra xem xét.
[9] Đối với Trần Ngọc T3 có hành vi đánh nhau với Lê Văn T, Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không đặt ra xem xét.
[10] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Lê Văn T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huyền |
Bản án số 597/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 597/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
