Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 596/2024/DS-ST

Ngày: 19/8/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đỗ Thị Thu Hương

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gấm – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2024/TLST-DS ngày 24/4/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 565/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam).

Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000, địa chỉ liên lạc: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền.

(Bà D có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Lê Đức H, sinh năm 1987

Địa chỉ: D Chung cư B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024 của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp trình bày:

Công ty T1 (Việt Nam) và ông Lê Đức H có ký với nhau Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022 theo đó Công ty T1 (Việt Nam) cho ông Lê Đức H vay số tiền 25.584.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân cho đến ngày 15/9/2025. Phương thức thanh toán chia làm 36 kỳ, lãi suất từ kỳ thứ nhất đến kỳ thứ 30 là 3.67%/tháng, từ kỳ thứ 31 đến kỳ thứ 36 là 0%/tháng. Thanh toán mỗi kỳ vào ngày 15 hàng tháng, từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/8/2025 thanh toán số tiền 1.303.175 đồng, kỳ cuối cùng thanh toán là ngày 15/9/2025 số tiền 1.256.664 đồng. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty T1 (Việt Nam) đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho ông Lê Đức H tuy nhiên ông H không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán mặc dù Công ty T1 (Việt Nam) nhiều lần liên hệ, làm việc. Tạm tính đến ngày 23/5/2024, ông Lê Đức H còn nợ Công ty T1 (Việt Nam) số tiền là 33.358.977đồng trong đó bao gồm: Tiền nợ gốc là 22.329.415 đồng, tiền lãi trong hạn là 8.571.607 đồng, tiền lãi quá hạn là 2.020.519 đồng, tiền lãi chậm trả là 437.436 đồng. Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Đức H phải thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền nợ trên và có trách nhiệm thanh toán tiền lãi, phí phát sinh kể từ ngày 24/5/2024 cho đến khi tất toán xong.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là bà Lâm Thị Thùy D có đơn xin vắng mặt và gửi bản tự khai trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Tạm tính đến ngày 19/8/2024, ông H còn nợ Nguyên đơn số tiền là 36.448.520 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 22.329.415 đồng, tiền lãi trong hạn là 10.199.294 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.259.799 đồng, lãi chậm trả là 660.012 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi nêu trên, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 cho đến khi thanh toán xong theo lãi suất các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022.

Bị đơn ông H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Đức H trả ngay cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/8/2024 là 36.448.520 đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 22.329.415 đồng, tiền lãi trong hạn là 10.199.294 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.259.799 đồng, lãi chậm trả là 660.012 đồng, trả 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực đồng thời có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 cho đến khi thanh toán xong theo lãi suất các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ gốc, lãi, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy bị đơn ông Lê Đức H có nơi cư trú tại quận T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là bà Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 22.329.415 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguyên đơn và bị đơn có ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022. Theo đó nguyên đơn đã đồng ý cho bị đơn vay với số tiền 25.584.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân cho đến ngày 15/9/2025. Phương thức thanh toán chia làm 36 kỳ, lãi suất từ kỳ thứ nhất đến kỳ thứ 30 là 3.67%/tháng, từ kỳ thứ 31 đến kỳ thứ 36 là 0%/tháng. Theo bảng tóm tắt sao kê nợ chưa thanh toán của khách hàng Lê Đức H thì tính đến ngày 19/8/2024 bị đơn chưa thanh toán nợ gốc là 22.329.415 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022 nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc 22.329.415 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu buộc bị đơn trả tiền lãi và phí:

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định: “ Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.

Ngoài ra Điều 14 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về việc thu các khoản phí liên quan đến hoạt động cho vay, gồm: 1. Phí trả nợ trước hạn trong trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn. 2. Phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng. 3. Phí thu xếp cho vay hợp vốn.4. Phí cam kết rút vốn kể từ thời điểm thỏa thuận cho vay có hiệu lực đến ngày giải ngân vốn vay lần đầu. 5. Các loại phí khác liên quan đến hoạt động cho vay được quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật liên quan.”

Từ những quy định nêu trên thì việc thỏa thuận lãi và phí giữa nguyên đơn và bị đơn trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi và phí tính đến ngày 19/8/2024 bao gồm: Tiền lãi trong hạn là 10.199.294 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.259.799 đồng, lãi chậm trả là 660.012 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 108 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam).

Buộc ông Lê Đức H có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền tính đến ngày 19/8/2024 là 36.448.520 (Ba mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn năm trăm hai mươi) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 22.329.415 đồng, tiền lãi trong hạn là 10.199.294 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.259.799 đồng, lãi chậm trả là 660.012 đồng.

Kể từ ngày 20/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Đức H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất, phí các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 3621724 ngày 12/9/2022 ký giữa Công ty T1 (Việt Nam) và ông Lê Đức H.

Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

Ông Lê Đức H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.822.426 (Một triệu tám trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm hai mươi sáu) đồng.

H1 lại Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 736.094 (Bảy trăm ba mươi sáu nghìn không trăm chín mươi bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001547 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình;
  • - Đương sự;
  • - Lưu vp, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 596/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 596/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger