Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH TÂY NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 596/2024/DS-PT.

Ngày: 06-12-2024.

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Phạm Văn Diệp;
  2. Bà Phạm Ngọc Giàu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 631/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 05/9/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 616/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ô B, tổ A, khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Võ Hồ Anh T, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 12/01/2022); có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Thanh Đ – Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1950; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

    Đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Trần Quốc T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 06/5/2024); có mặt.

1

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: Ô B, tổ A, khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

      Đại diện hợp pháp của bà C: ông Võ Hồ Anh T, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 12/01/2022); có mặt.

    2. Bà Nguyễn Thị Hồng Q, sinh năm 1979;
    3. Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1980;
    4. Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985;

      Cùng nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; cùng vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

    5. Ngân hàng N (A); địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;

      Đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh S – Phó giám đốc phụ trách điều hành A Chi nhánh Khu công nghiệp T, Tây Ninh; là đại diện theo Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo –PC ngày 01-12-2022 của Ngân hàng N.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H - Trưởng phòng khách hàng. (văn bản ủy quyền lại ngày 05/12/2024); có mặt.

    6. Bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1957; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.
    7. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1951. Không rõ địa chỉ.
    8. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959. Không rõ địa chỉ.
    9. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961. Không rõ địa chỉ.
  2. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng D là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng D, và đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Võ Hồ Anh T trình bày:

Ông Nguyễn Văn B chết năm 2002 và bà Trần Thị Hồng Đ3 chết năm 1975. Ông B, bà Đ3 chung sống với nhau vào năm 1970, không có đăng ký kết hôn, có 02 người con chung, gồm: Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1972 và Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1974. Ông B có cha ruột tên Nguyễn Văn T3 chết năm 2016 và mẹ ruột tên Dương Thị K chết năm 2023. Ông T3, bà K có 06 người con gồm Nguyễn Văn T4 đã chết, Nguyễn Văn B đã chết, Nguyễn Văn O đã chết, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị T5 đã chết, Nguyễn Thị Đ2, Nguyễn Thị T2 và Nguyễn Thị H1.

Ông B được cha cho phần đất khoảng 01 công, nay là thửa 27, tờ bản đồ 18, diện tích 1.007 m², tọa lạc tại ấp P, xã P. Việc cho không làm giấy tờ. Ông B là

2

người quản lý, sử dụng đất, xây dựng nhà ở trên đất cho đến khi chết. Ông B chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông chưa đăng ký.

Năm 1975, bà Đ3 chết. Sau đó, ông B chung sống với bà Nguyễn Thị Đ1 có 03 người con chung là: Nguyễn Thị Hồng Q, Nguyễn Thị Hồng L, Nguyễn Thị Hồng V. Năm 1998, ông B và bà Đ1 ly hôn. Đến năm 2002, ông B chết, không để lại di chúc, cũng chưa chia đất cho ai. Ông B không có con nuôi hay cha mẹ nuôi.

Năm 2006 (sau khi ông B chết), bà Đ1 đi đăng ký và được cấp giấy đất, thể hiện theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, số vào sổ 00242/267/2005/QĐ-UBND (HL) ngày 20/3/2006 do UBND huyện G cấp. Việc này trước đây bà D, bà C không hề hay biết. Hiện bà Đ1 và các con Q, L, V cùng quản lý, sử dụng đất. Phần đất nói trên là di sản thừa kế của ông B để lại, không phải là tài sản của bà Nguyễn Thị Đ1. Riêng căn nhà trên đất bà D, bà C không tranh chấp.

Bà D, bà C yêu cầu Tòa án xét xử chia thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất thực tế đo đạt 1.007 m², thuộc thửa 27, tờ bản đồ 18, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Chia theo giá trị thành 5 phần bằng nhau cho bà D, bà C mỗi người một phần về giá trị theo hội đồng định giá đã định.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ1 và đại diện bà Đ1 trình bày:

Thống nhất lời trình bày của đại diện hợp pháp của nguyên đơn về hàng thừa kế. Riêng về di sản thừa kế đại diện nguyên đơn trình bày là không đúng. Bà Đ1 không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì đây là tài sản riêng của bà. Khi bà và ông B ly hôn đã phân chia tài sản chung, nợ chung. Đối với tài sản nguyên đơn tranh chấp theo quyết định ly hôn đã phân chia cho bà Đ1 và bà Đ1 có nghĩa vụ trả tiền chênh lệch cho ông B và trả một số nợ chung. Do sau khi ly hôn, ông B không có nơi nào ở và nghĩ tình nghĩa nên bà Đ1 đã cho ông B ở tại căn nhà đến khi ông B chết. Phần đất này hiện bà đã thế chấp Ngân hàng N – Chi nhánh K1 Công nghiệp Trảng Bàng cho bà V vay tiền. Bà đồng ý với ý kiến của Ngân hàng đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Trong các lời khai,những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng Q, bà Nguyễn Thị Hồng L và bà Nguyễn Thị Hồng V cùng trình bày:

Nhận thấy thống nhất lời trình bày của bà Đ1. Phần đất nguyên đơn đang tranh chấp là tài sản riêng của bà Đ1 vì đã được cấp giấy cho một mình bà đứng tên vào năm 2006. Ông B chết không để lại di sản nên bà Q, bà L, bà V không có yêu cầu gì.

Trong đơn khởi kiện và các lời khai đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan A, ông Võ Văn L1 trình bày:

Bà Nguyễn Thị Hồng V có thỏa thuận và ký kết Hợp đồng tín dụng để vay vốn tại Ngân hàng N Chi nhánh Khu Công nghiệp T như sau: Hợp đồng tín dụng số 5701-LAV-202100775 ngày 08/7/2021, nhận nợ tại giấy nhận nợ số 5701-LDS-202101248 ngày 09/7/2021. Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (bằng chữ: hai tỷ đồng). Mục đích vay: Kinh doanh quần áo may sẵn. Lãi suất tại thời điểm

3

vay vốn là: 8,5%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Thời hạn cho vay: 06 tháng, ngày trả nợ cuối cùng: 08/01/2022. Tài sản thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng nêu trên bao gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 484/2019/HĐTC ngày 19/11/2019, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số: 02/1484/2019/HĐSĐBS ngày 08/7/2021.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất số phát hành AÐ 420826, số vào sổ: 00242/267/2005/QĐ-UBNDHL) do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/3/2006, diện tích 1.007 m² (trong đó đất ở nông thôn 400 m, đất trồng cây lâu năm 607 m), địa chỉ thửa đất: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên.

Tổng cộng nợ vay của bà Nguyễn Thị Hồng V tại Hợp đồng tín dụng nêu trên là: 2.750.439.743 đồng (trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 800.439.743 đồng).

Nợ vay của bà Nguyễn Thị Hồng V đã quá hạn thanh toán từ ngày 09/01/2022, bà Nguyễn Thị Hồng V và bà Nguyễn Thị Đ1 đã cam kết trả nợ nhiều lần nhưng không thực hiện đúng theo cam kết.

Nay A – Chi nhánh Khu Công Nghiệp T yêu cầu Tòa án Nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh buộc bà Nguyễn Thị Hồng V trả cho Ngân hàng tổng số tiền 2.750.439.743 đồng (trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 800.439.743 đồng), số tiền lãi sẽ được tiếp tục tính đến ngày khoản nợ được trả hết. Trường hợp bà V không trả thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của bà Đ1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ2 trình bày:

Bà là em ruột ông B, cha mẹ bà chết sau ông B và có tất cả 08 người con hiện đã chết 04 người còn lại bà và bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị T2 và bà Nguyễn Thị H1. Hiện nay bà không biết rõ địa chỉ của các anh em bà cũng như họ tên địa chỉ vợ chồng và các con của những anh em đã chết. Ông B khi chết có để lại tài sản gì hay không bà không biết và bà không có yêu cầu gì đối với tài sản của ông B để lại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 05/9/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, quyết định.

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 649, 660 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng D tranh chấp về thừa kế tài sản đối với bà Nguyễn Thị Đ1 đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00242/267/2005/QĐ-UBND(HL) do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên

4

ngày 20/3/2006 diện tích 1.007 m², thửa số 27, tờ 18 ấp Phước Hội A, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A) tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị Hồng V.
    1. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền gốc 1.950.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 05/9/2024 là 800.439.743 đồng. Tổng cộng là 2.750.439.743 (hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi ba) đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng V còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/9/2024 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho A theo Hợp đồng tín dụng số 5701-LAV-202100775 ngày 08/7/2021, nhận nợ tại giấy nhận nợ số 5701-LDS-202101248 ngày 09/7/2021.
    2. Trường hợp bà Nguyễn Thị Hồng V không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên thì A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp tài sản Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 484/2019/HĐTC ngày 19/11/2019, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số: 02/1484/2019/HĐSĐBS ngày 08/7/2021. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất số phát hành AÐ 420826, số vào số: 00242/267/2005/QĐ-UBNĐHL) do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/3/2006, diện tích 1.007 m² (trong đó đất ở nông thôn 400 m, đất trồng cây lâu năm 607 m), địa chỉ thửa đất: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, bà Nguyễn Thị Hồng D có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận đơn kháng cáo bà Nguyễn Thị Hồng D. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 05/9/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng D kháng cáo trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

5

  1. [2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng D thấy rằng:
    1. [2.1] Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950 (chết năm 2002) và bà Trần Thị Hồng Đ3 chết năm 1975, chung sống với nhau vào năm 1970, có 02 người con chung, gồm: Nguyễn Thị Hồng C và Nguyễn Thị Hồng D. Sau đó, ông B chung sống với bà Nguyễn Thị Đ1 có 03 người con chung là: Nguyễn Thị Hồng Q, Nguyễn Thị Hồng L, Nguyễn Thị Hồng V. Năm 1998. Năm 2000 ông B và bà Đ1 ly hôn.
    2. [3] Về tài sản tranh chấp: Phần đất tranh chấp theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ có diện tích 986,9 m², trong thửa 386, tờ bản đồ 27 (bản đồ 2000), tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00242/267/2005/QĐ-UBND(HL) do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên ngày 20/3/2006 diện tích 1.007 m², thửa số 27, tờ 18 ấp Phước Hội A, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có nhà tường và cây trồng hiện do bà Đ1 đang quản lý sử dụng.

      Nguồn gốc tài sản tranh chấp do cha mẹ ông B là cụ Nguyễn Văn T3 mua cho ông B (bút lục 113, 123). Năm 2000, bà Đ1 và ông B ly hôn, tại quyết định thuận tình ly hôn số 06/QĐTTLH ngày 18/4/2000 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu giữa bà Đ1 và ông B đã chia tài sản chung, trong đó có chia phần tài sản gồm căn nhà tường, mái ngói, nền gạch bông diện tích 6,0m x 7,0m nằm trên diện tích 20m x 30m ông B và bà Đ1 thống nhất giá 35.000.000 đồng; nợ chung hai bên thống nhất khoản 24.000.000 đồng do bà Đ1 đồng ý nhận nhà đất. Bà Đ1 có nghĩa vụ giao cho ông B 5.500.000 đồng tiền chia tài sản và trả nợ chung trả cho Ngân hàng Nông nghiệp huyện G 5.500.000 đồng trả cụ Nguyễn Văn T3 số tiền 7.500.000 đồng; trả cho bà D1 5.000.000 đồng; trả cho cô H2 2.000.000 đồng; trả bà X 2.000.000 đồng; trả cho bà Đ4 04 chỉ vàng 24Kra.

      Thực tế diện tích đất nhiều hơn so với diện tích đất nêu trong quyết định do bà Đ1 cho rằng đã nhận chuyển nhượng thêm phần đất phía hậu sau khi đã ly hôn với ông B.

      Bà D cho rằng tại quyết định giải quyết ly hôn đã phân chia tài sản đã ghi “chia cho bà Đ1 được sở hữu căn nhà nằm trên diện tích đất” nên chỉ chia căn nhà trên đất mà không chia quyền sử dụng đất là không phù hợp vì căn nhà trên đất là nhà tường kiên cố có ghi diện tích nhà và diện tích đất và ghi tứ cận đất. Nên diện tích 1.007 m² không phải là di sản thừa kế của ông B. Do đó, cấp sơ thẩm bác đơn yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ đúng pháp luật. Bà D kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.

    3. [4] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà D, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 05/9/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh quyết định.
    4. [5] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án. Bà D kháng cáo không được chấp nhận phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

6

  1. [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 611, 612, 613, 614, 649, 660 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng D.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 178/2024/DS-ST ngày 05/9/2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng D tranh chấp về thừa kế tài sản đối với bà Nguyễn Thị Đ1 đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00242/267/2005/QĐ-UBND(HL) do Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên ngày 20/3/2006 diện tích 1.007 m², thửa số 27, tờ 18 ấp Phước Hội A, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N (A) tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị Hồng V.
    1. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền gốc 1.950.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 05/9/2024 là 800.439.743 đồng. Tổng cộng là 2.750.439.743 (hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi ba) đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng V còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/9/2024 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho A theo Hợp đồng tín dụng số 5701-LAV-202100775 ngày 08/7/2021, nhận nợ tại giấy nhận nợ số 5701-LDS-202101248 ngày 09/7/2021.
    2. Trường hợp bà Nguyễn Thị Hồng V không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên thì A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp tài sản Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 484/2019/HĐTC ngày 19/11/2019, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số: 02/1484/2019/HĐSĐBS ngày 08/7/2021. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất số phát hành AÐ 420826, số vào số: 00242/267/2005/QĐ-UBNĐHL) do UBND huyện G, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/3/2006, diện tích 1.007 m² (trong đó đất ở nông thôn 400 m, đất trồng cây lâu năm 607 m), địa chỉ thửa đất: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh do bà Nguyễn Thị Đ1 đứng tên.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Hồng D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà D đã nộp 300.000(ba trăm nghìn) đồng theo Biên

7

lai thu tạm ứng án phí lệ phí toà án số 0014416 ngày 24/9/2024 của chi cục thi hành án huyện Gò Dầu.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - PKTNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND H. Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS H. Gò Dầu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 596/2024/DS-PT. ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 596/2024/DS-PT.
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger