|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 595/2024/DS-PT Ngày: 26/09/2024 “V/v Tranh chấp về dân sự - Quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
Ông Phạm Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 26 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLPT-DS, ngày 16/4/2024 về việc “Tranh chấp về dân sự - Quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 184/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 380/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Võ Thị M, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Võ Thị M: Anh Dương Minh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số G đường C, tổ F, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị M là Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H - Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: Số B, đường T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
-
Bị đơn:
- Ông Võ Văn Lộc E, sinh năm 1966;
- Bà Trần Thị X (S), sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trương Ngọc S1 – Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Võ Thị Thùy T1, sinh năm 1984.
- Anh Võ Minh T2, sinh năm 1988.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Võ Thị Thùy T1, anh Võ Minh T2: Ông Võ Văn Lộc E, sinh năm 1966.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Trương Thị Bích L, sinh năm 1956.
- Anh Võ Tuấn A, sinh năm 1981.
- Chị Võ Thị Hồng V, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn L, huyện L, Đồng Tháp.
- Chị Võ Thị Hồng H1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số E, T, khu phố C, Phường E, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1953.
- Anh Võ Phước Lê Anh T4, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Võ Phước H2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: A, đường số G, khu dân cư H, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Võ Thị N, sinh năm 1962.
- Ông Võ Văn Lộc A1, sinh năm 1964 (đã chết ngày 30/01/2024); Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Võ Văn Lộc A1:
- Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1958 (Vợ ông Lộc A2);
Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Võ Thị Như T6, sinh năm 1983 (Con ông Lộc A2);
Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Võ Duy T7, sinh năm 1986 (Con ông Lộc A2);
Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Võ Thị M là nguyên đơn; ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn bà Võ Thị M anh Dương Minh T trình bày:
Phần đất tranh chấp diện tích 2.000m² đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 08 (theo hệ thống bản đồ lưới tọa độ) đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, đối chiếu sang hệ thống bản đồ 229 là thửa đất số 509, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C.
Bà M có cha là ông Võ Văn T8 và mẹ là bà Huỳnh Thị N1 đều chết trước năm 1987, các anh chị em thống nhất giao cho bà M sử dụng diện tích 2.000m² nằm trong tổng diện tích 5.005m² đất cây lâu năm thuộc thửa 111. Ngày 12/3/1987 nhằm ngày 13/02/1987 âm lịch, các anh chị em có mặt lập tờ phân chia đất vườn, nội dung ghi rõ diện tích đất chia cho bà M là 2.000m², phần còn lại là của ông Lộc E. Bà M với ông Lộc E cùng ký tên vào tờ phân chia đất, có sự chứng kiến của ông Võ Văn D cùng các anh, chị em khác.
Sau khi được chia đất, bà M nhận đất canh tác được khoảng 02 năm, là đất trồng cây lâu năm chủ yếu trồng cây ăn quả là ổi và chuối. Thời điểm này, bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do canh tác không hiệu quả, một phần bà M thấy hoàn cảnh của ông Lộc E khó khăn nên giao lại diện tích đất cho ông Lộc E mượn nhưng không xác lập giấy tờ gì vào năm 1990. Khi bà M giao đất cho ông Lộc E thì trên đất có 150 cây ổi và 122 bụi chuối nhưng không có gì chứng minh.
Thời gian gần đây hoàn cảnh kinh tế của ông Lộc E đã tốt hơn nên khoảng tháng 9/2020, bà M có yêu cầu trả lại diện tích đất để canh tác thì ông Lộc E không đồng ý.
Theo Văn bản số 1292/UBND-TNMT, ngày 01/9/2021 do Ủy ban nhân dân huyện C cung cấp thì diện tích đất tranh chấp hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Buộc ông Lộc E và bà X di dời cây trồng và giao trả cho bà M diện tích 2.000m² đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 08 (theo hệ thống bản đồ lưới tọa độ) tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C.
Yêu cầu công nhận cho bà Võ Thị M được quyền sử dụng diện tích 2.000m² đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C. Cụ thể trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M3 – M4 – M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Nguyên đơn đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Trần Thị X, ông Võ Văn Lộc E cùng được sự ủy quyền của chị Võ Thị Thùy T1 và anh Võ Minh T2 trình bày:
Ông Lộc E thống nhất phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ là ông Võ Văn T8 và mẹ là bà Huỳnh Thị N1 (đều chết trước năm 1987). Ngày 12/3/1987 nhằm ngày 13/02/1987 âm lịch, các anh chị em thống nhất giao cho bà M sử dụng diện tích 2.000m2 nằm trong diện tích 5.005m², phần còn lại giao ông Lộc E thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C. Bà M với ông Lộc E cùng ký tên vào tờ phân chia đất, có sự chứng kiến của ông Võ Văn D cùng với anh em khác trong gia đình gồm: ông P (đã chết), ông Lộc A2 và bà N. Ông Lộc E thừa nhận và thống nhất toàn bộ nội dung của tờ phân chia đất vườn. Buổi chiều cùng ngày 12/3/1987, ông Lộc E có đứng ra đo đất và giao đất cho bà M quản lý, sử dụng.
Sau khi được chia đất, bà M nhận 2.000m² đất canh tác, hiện trạng khi đó là 02 liếp và nửa cái mương. Bà M canh tác được 03 năm (từ năm 1987 đến năm 1990) chủ yếu trồng ổi, số lượng cây thì không nắm rõ. Thời điểm này, bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng năm 1990, ông Lộc E không xác định được ngày tháng nào, bà M đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lộc E phần đất đang tranh chấp với giá 15 chỉ vàng 24kara. Việc chuyển nhượng đất giữa ông Lộc E với bà M không có lập giấy tờ gì, không có thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nhưng có sự chứng kiến của 02 người anh là ông Võ Văn P1 (đã chết) và ông Võ Văn Lộc A1. Ông Lộc E đã giao trả đủ số vàng cho bà M, nên việc bà M cho rằng mượn đất canh tác không lấy tiền thì không đồng ý.
Ông Lộc E trực tiếp canh tác đất từ năm 1990 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng, ông Lộc E đã thuê kobe múc đất, cải tạo đất, không còn giữ hiện trạng ban đầu như thời điểm phân chia đất vào năm 1987. Tuy nhiên, ông Lộc E không xác định được giá trị cải tạo đất là bao nhiêu. Đối với quá trình ông Lộc E canh tác đất, trồng cây, cải tạo mương bờ thì có những người xung quanh biết. Hiện nay, ông Lộc E trồng cây ăn trái gồm 40 cây xoài, 80 cây sầu riêng và 109 cây mít trên đất tranh chấp với bà M.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Lộc E và bà X di dời cây trồng và giao trả cho bà M diện tích 2.000m² đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C thì ông Lộc E và bà X không đồng ý. Do phần đất đang tranh chấp, ông Lộc E đã nhận chuyển nhượng và trả đủ vàng cho bà M.
Ông Võ Văn Lộc E và và Trần Thị X có yêu cầu như sau: Công nhận cho ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X được quyền sử dụng đất diện tích 5.004,8m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Lộc E và bà X thống nhất kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 19/10/2022 và ngày 18/5/2023 của Tòa án; đồng ý sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 19/10/2022; thống nhất kết quả định giá phần đất tranh chấp theo chứng thư thẩm định số 0909/22/CTTĐ-VAAE-HCM ngày 23/9/2022 của Công ty Cổ phần G – Chi nhánh Thành phố H.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm ông Võ Văn Lộc A1 (anh ruột của bà M và ông Lộc E) trình bày:
Thống nhất diện tích đất tranh chấp thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của ông Võ Văn T8 và mẹ là bà Huỳnh Thị N1 (đều chết trước năm 1987). Ngày 12/3/1987, các anh chị em thống nhất giao cho bà M sử dụng diện tích 2.000m² nằm trong diện tích 5.005m², phần còn lại là của ông Lộc E. Khoảng năm 1990, ông Lộc A2 và ông P1 có chứng kiến bà M thỏa thuận chuyển nhượng diện tích tranh chấp lại cho ông Lộc E. Giá trị thỏa thuận chuyển nhượng là 15 chỉ vàng 24k và ông Lộc E giao đủ vàng.
Phần diện tích đất tranh chấp đã thỏa thuận giao cho bà M và ông Lộc E theo sự thống nhất của các anh em trong gia đình. Nay ông Lộc A2 không yêu cầu gì đối với diện tích đất. Thống nhất giao cho ông Lộc E tiếp tục quản lý, sử dụng.
Anh Dương Minh T- người đại diện theo ủy quyền của bà M trình bày bổ sung: Không thừa nhận toàn bộ nội dung của ông Lộc E và ông Lộc A2 trình bày. Không thừa nhận có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà M với ông Lộc E và bà X. Bà M và ông Lộc A2 có mâu thuẫn với nhau nên lời khai của ông Lộc A2 là không khách quan. Không đồng ý yêu cầu phản tố của ông Lộc E và bà X. Đối với phần cây trồng trên đất, nguyên đơn thống nhất để Tòa án giải quyết theo quy định.
- Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị M.
- Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8, loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà Võ Thị M.
- Buộc ông Võ Văn Lộc E, bà Trần Thị X, chị Võ Thị Thùy T1 và anh Võ Minh T2 có nghĩa vụ di dời các tài sản (trừ cây trồng trên đất) và giao cho bà Võ Thị M diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8, loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Cụ thể trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M3 - M4 – M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
- Bà Võ Thị M có nghĩa vụ trả cho ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X giá trị cây trồng trên đất là 435.400.000 (bốn trăm ba mươi lăm triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người có quyền cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
- Bà Võ Thị M được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất được công nhận.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X.
Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.466,2m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8 loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X. Cụ thể trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M7 – M6 – M5 – M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
Kèm theo biên bản xem xét thẩm định ngày 22/3/2021, ngày 19/10/2022 và ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
Bà Võ Thị M, ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.
Ngoài ra, bản án tuyên về án phí, các chi phí tố tụng; tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Võ Thị M không đồng ý trả giá trị cây trồng cho ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X với số tiền là 435.400.000 đồng. Bà M yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử lại vụ án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M; bị đơn ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 184/2023/DS-ST, ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Công nhận cho ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 111, diện tích đo đạc thực tế 4.466,2m² (thửa cũ là 309 theo Giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 28/02/2000 cho hộ bà Trần Thị X).
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
Người tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bà M thống nhất trả giá trị cây cho ông Lộc E với tổng số tiền là 170.000.000đ.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo.
Người tham gia bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Võ Thị M và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Võ Văn Lộc E, Trần Thị X. Sửa một phần quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 184/2023/DS-ST ngày 18/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh theo hướng chia đôi giá trị cây trồng có trên đất. Bà M quản lý, sử dụng cây trồng thì trả ½ giá trị cây trồng cho ông Lộc E, bà X.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị M đối với bị đơn là ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X có nghĩa vụ di dời cây trồng trên đất để trả lại diện tích 2.000m²; Ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X xác định đã nhận chuyển nhượng diện tích 2.000m² đất của bà M và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 5.004,8m² theo đo đạc thực tế là 4.466,2m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 500 Bộ luật dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Võ Thị M và bị đơn Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T9 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà M và ông Lộc E; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- - Về nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, TBĐ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của ông Võ Văn T8 và bà Huỳnh Thị N1 (đều chết trước năm 1987). Do không để lại di chúc nên ngày 12/3/1987, bà M cùng với người thừa kế của ông T8 và bà N1 thỏa thuận chia phần diện tích đang tranh chấp để cho bà M được quyền sử dụng, diện tích bà M được cho là 2.000m². Khi tiến hành thỏa thuận xong có tiến hành xác lập “Tờ phân chia đất vườn”. Lời trình bày này của bà M được ông Lộc E thừa nhận; như vậy, phần đất tranh chấp có diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của bà M. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự.
- - Về quá trình sử dụng: sau khi nhận được đất theo sự phân chia xác lập ngày 12/3/1987 thì bà M tiến hành nhận đất canh tác, bà M đã trồng ổi, cóc và một số cây trồng khác. Bà M canh tác được 02 năm thì giao lại cho ông Võ Văn Lộc E và bà X canh tác.
- Theo bà M trình bày là do thấy em của bà là ông Lộc E hoàn cảnh khó khăn nên bà cho mượn đất để canh tác; Còn ông Lộc E thì cho rằng do bà M đã chuyển nhượng diện tích 2.000m² đất này cho ông, giá là 15 chỉ vàng 24k. Nhưng lời trình bày này của ông Lộc E không được bà M thừa nhận, ông Lộc E cũng không có chứng cứ giao vàng cho bà M. Đồng thời, căn cứ vào nội dung biên bản hòa giải ngày 27/11/2020, ông Lộc E đồng ý trả lại diện tích đất khi bà M trả đủ 15 chỉ vàng 24k. Như vậy, việc bà M yêu cầu ông Lộc E, bà X trả lại đất là có cơ sở.
- - Về cây trồng trên đất: Bà M thừa nhận, hiện nay toàn bộ cây trồng là do ông Lộc E và bà X trồng, còn cây của bà M trồng trước đây ông Lộc E đã đốn bỏ. Đồng thời, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định đối với cây trồng trên đất gồm cốc, ổi, xoài...; Nhưng sau đó ông Lộc E lại đốn bỏ và trồng lại số cây như hiện nay. Vì vậy, bà M yêu cầu ông Lộc E và bà X di dời toàn bộ số cây trồng có trên đất, bà M không đồng ý trả giá trị. Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy: Phần cây trồng trên đất đã lớn, việc di dời sẽ làm ảnh hưởng giá trị sử dụng của cây. Do đó, cần xem xét tiếp tục giao cho phía bà M quản lý nhưng phải trả giá trị cho bên ông Lộc E là phù hợp. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà M trả lại toàn bộ giá trị cây trồng trên đất cho ông Lộc E là chưa thỏa đáng. Bởi vì, ông Lộc E cũng thừa nhận trước đây bà M giao đất cho ông Lộc E cũng có cây trồng trên đất do bà M trồng, ông Lộc E không chứng minh được có chuyển nhượng đất mà lại đốn toàn bộ cây trồng của bà M để trồng lại cây khác; Sau khi phát sinh tranh chấp, ông Lộc E tiếp tục đốn phần cây trồng đã được xem xét, thẩm định và trồng lại số cây mới như hiện nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chia đôi giá trị cây trồng hiện có để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/5/2023, cây trồng trên đất tranh chấp gồm: 63 cây sầu riêng, 40 cây xoài và 106 cây mít.
Căn cứ vào biên bản định giá giá trị cây trồng được tính như sau:
(1) 63 cây sầu riêng (trồng khoảng tháng 11/2021) x 3.200.000 đồng/cây = 201.600.000 đồng.
(2) 40 cây xoài (trồng khoảng 11 năm) x 2.400.000 đồng/cây = 96.000.000 đồng.
(3) 106 cây mít (trồng khoảng 1,5 năm) x 1.300.000 đồng/cây = 137.800.000 đồng.
Tổng giá trị cây trồng: 435.400.000 đồng.
Như vậy, bà M phải có nghĩa vụ trả ½ giá trị cây trồng cho ông Lộc E, bà X với số tiền là 217.700.000₫.
Phần diện tích đất ông Lộc E yêu cầu công nhận có một phần được chia theo văn bản ngày 13/02/1987 (âm lịch) nên chỉ có căn cứ một phần.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bà M, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lộc E và bà X. Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.
Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
Về chi phí xem xét, thẩm định bổ sung ở cấp phúc thẩm thì người yêu cầu phải chịu (số tiền này bà M đã nộp và đã chi xong).
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét lời trình bày và đề nghị của người tham gia bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có một phần căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà M.
Xét lời trình bày và đề nghị của người tham gia bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là chưa phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 148; Điều 298; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 163, Điều 164, Điều 166 và Điều 500 Bộ Luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị M;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X (S).
-
Sửa một phần quyết định bản án số 184/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị M.
- Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8, loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà Võ Thị M.
- Buộc ông Võ Văn Lộc E, bà Trần Thị X, chị Võ Thị Thùy T1 và anh Võ Minh T2 có nghĩa vụ di dời các tài sản (trừ cây trồng trên đất) và giao cho bà Võ Thị M diện tích 2.000m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8, loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Cụ thể trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M3 - M4 – M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
- Bà Võ Thị M có nghĩa vụ trả cho ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X giá trị cây trồng trên đất là 217.700.000₫ (Hai trăm mười bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người có quyền cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
- Bà Võ Thị M được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên diện tích đất được công nhận.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X.
- Công nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.466,2m² thuộc một phần thửa 111, tờ bản đồ số 8 loại đất cây lâu năm tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X. Cụ thể trong phạm vi các mốc M1 – M2 – M7 – M6 – M5 – M1 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
- Kèm theo biên bản xem xét thẩm định ngày 22/3/2021, ngày 19/10/2022 và ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C được xác nhận của UBND xã M ngày 27/12/2022.
- Bà Võ Thị M, ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất đã được Tòa án công nhận quyền sử dụng theo bản án đã tuyên.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Võ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.885.000đ (Mười triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn) đồng nhưng khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 4.250.000 (bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0012201 ngày 25/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Bà Võ Thị M phải tiếp tục nộp 6.635.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 11.185.000đ (Trong đó, có 10.885.000₫ là tiền án phí về chia giá trị cây và 300.000đ án phí về tranh chấp quyền sử dụng đất) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng theo biên lai thu số 0000166, ngày 17/02/2023 của Chi cục Thi hành dân sự huyện C. Như vậy, Ông Lộc E và bà X còn được nhận lại 2.815.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về chi phí tố tụng khác:
- Số tiền chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá là 16.942.500 (mười sáu triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm) đồng (Đã nộp và chi xong)
- Ông Võ Văn Lộc E và bà Trần Thị X có nghĩa vụ trả lại cho bà Võ Thị M chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và định giá là 16.991.000 (mười sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn) đồng do đã tạm ứng trước.
- - Về án phí và chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm:
- Hoàn trả tiền án phí phúc thẩm cho bà M là 300.000đ theo biên lai số 0004579 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Lộc E, bà X được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0004426 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà M phải chịu chi phí xem xét thẩm định bổ sung tại cấp phúc thẩm (số tiền này bà M đã nộp và đã chi xong).
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
11
Bản án số 595/2024/DS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự - quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 595/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự - Quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyền sử dụng đất
