Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 595/2024/HS-PT
Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Nguyễn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” do có kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Hồng P (S); sinh ngày 08 tháng 10 năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ô 7/224, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng  và bà Nguyễn Thị X; vợ Nguyễn Thị Kim N; con có 02 người lớn sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: từ ngày 24-12-2009 đến 30-8-2011 bị đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi cướp giật tài sản, theo Quyết định số 46106 ngày 18-12-2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, TP Hồ Chí Minh; ngày 23-7-2013 bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-9-2014. Ngày 29-01-2015 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G, Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính 45.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” chưa nộp phạt; bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.
  2. Nguyễn Văn T; sinh ngày 04 tháng 01 năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thu S; vợ Huỳnh Thị S1; con có 02 người; tiền án: không; tiền sự: ngày 05-6-2022 bị Công an thị trấn G, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt ngày 27-6-2022. Nhân thân: từ ngày 25-02-2016 đến 27-7-2017 bị xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Vận chuyển trái phép hành hóa qua biên giới” đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo P, bị cáo T (do Tòa án chỉ định): ông Huỳnh Đức T1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

  3. Phan Văn K; sinh ngày 20 tháng 11 năm 1973, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn N1 (chết) và bà Nguyễn Thị X1 (chết); vợ Nguyễn Thị T2; tiền sự: không; tiền án: tại Bản án số 24/2015/HSST ngày 02-6-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Buôn lậu” chấp hành xong hình phạt tù ngày 01-9-2021. Bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo P, bị cáo T (do Tòa án chỉ định): ông Vũ Thanh H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

  4. Nguyễn Duy K1; sinh ngày 22 tháng 4 năm 1988, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Mai Thị H1; vợ Lê Thị Bích L; có 02 người con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo K1 (do gia đình bị cáo mới): ông Phạm Văn T3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

  5. Võ Tấn P2 (Mọi); sinh ngày 02 tháng 6 năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T4 và bà Nguyễn Thị H2; vợ Trần Thị Thanh T5; có 01 người con sinh năm 2018; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: ngày 13-01-2015 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm về tội “Đánh bạc”, được xóa án; bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.
  6. Lâm Gia Đ; sinh ngày 26 tháng 4 năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Thanh T6 và bà Nguyễn Thị Hồng N2 (chết); vợ con chưa có; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định số 43 ngày 28-9-2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 16-8-2018; tại Quyết định số 58 ngày 28-8-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 29-01-2022; bị bắt tạm giam ngày 02-8-2022, có mặt.

    Người bào chữa cho bị cáo P2, bị cáo Đ (do Tòa án chỉ định): ông Trần Quý T7 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (là vợ bị cáo K1), (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 01/8/2022, tại khu vực cầu T, trên Quốc lộ B thuộc khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp cùng các đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Duy K1 điều khiển xe ôtô hiệu Kia Soluto biển số 70E-000.56 chở Võ Tấn P2, phát hiện bên trong cốp xe có 01 thùng giấy bên ngoài có chữ Hero, bên trong có 05 cây thuốc lá hiệu Hero và 02 thùng giấy chứa tổng cộng 20 bịch nylon màu xanh trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Tấn P2, Nguyễn Duy K1 và thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: mẫu chất rắn bên trong 20 bịch nylon thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng là 19.651,9791 gam.

Qua điều tra xác định: Nguyễn Hồng P thường sang Campuchia để đánh bạc tại các điểm casino chơi nên quen người đàn ông tên T6 (không rõ họ tên, địa chỉ, nhà ở thành phố Hồ Chí Minh). T6 giới thiệu P và cho số điện thoại người đàn ông Việt Nam (không rõ họ tên, địa chỉ) đang tìm người thuê vận chuyển ma túy từ Campuchia về Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, P kết bạn với người đàn ông này thông qua mạng xã hội T8 và liên lạc với nhau, hai bên thỏa thuận tiền công vận chuyển 01kg ma túy với giá là 18.000.000 đồng. Sau đó, P sử dụng số điện thoại 0785.476.xxx gọi đến số điện thoại 0918.677.xxx của Nguyễn Văn T rủ T tham gia vận chuyển ma túy từ Campuchia vào Việt Nam, tiền công từ 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/01kg, đồng thời P kêu T rủ thêm người, T đồng ý.

Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, T gọi điện thoại 0889.388.xxx của Phan Văn K hẹn uống nước tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế M1. Tại đây, T nói cho K nghe về việc P thuê vận chuyển ma túy, thì K đồng ý. T và K thỏa thuận: T sẽ liên lạc với P, khi nào có ma túy thì thông báo và cung cấp số điện thoại của người giao hàng ở Campuchia để K trực tiếp liên hệ nhận và vận chuyển ma túy đến khu vực biên giới, đối diện chốt Biên phòng Tà Peng thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M1 thì dừng lại quan sát, chờ khi lực lượng Biên phòng thay ca sẽ vận chuyển ma túy qua biên giới; T có nhiệm vụ cảnh giới lực lượng chức năng cho K vận chuyển ma túy đến khu vực xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì giao lại cho T, T sẽ giao cho P; T là người liên hệ với P nhận tiền công vận chuyển về chia nhau.

Đến khoảng 14 giờ 30 ngày 01/8/2022, P điện thoại cho T kêu cho số điện thoại của K để P cho số điện thoại người giao ma túy ở Campuchia. P không liên lạc được với K nên nhắn tin số điện thoại +85566912698 (nhà mạng Campuchia) cho T để T đưa lại cho K tự liên lạc nhận ma túy. Sau khi nhận được số điện thoại, K điều khiển xe mô tô biển số 5359–4414 đến khu vực chợ B1 (còn gọi là chợ B2) thuộc Vương quốc Campuchia và liên lạc với số điện thoại +85566912698 thì được một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ giao cho 01 thùng ma túy đã được đóng gói ngụy trang trong thùng giấy catton bên ngoài có chữ Hero. Sau khi nhận được thùng ma túy, K gọi điện kêu T đến bãi xe container phía sau siêu thị miễn thuế Mộc B canh đường cho K vận chuyển vào Việt Nam.

Sau đó, K tiếp tục chở thùng ma túy và thuốc lá đến khu vực đối diện chốt biên phòng Tà Peng canh lực lượng Biên phòng rồi điều khiển xe qua chốt. Khi đi đến khu vực siêu thị M2 thì gặp T. Lúc này, T điều khiển xe mô tô Wave biển số 70L6-7873 chạy trước canh đường cho K; khi đến khu vực ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì cả hai dừng xe lại, K mang thùng ma túy giao cho T rồi về nhà. T điện thoại cho P giao thùng ma túy tại ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh rồi chạy về.

P liên lạc với Võ Tấn P2, Lâm Gia Đ hẹn gặp nhau đến quán C thuộc thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, cả nhóm thống nhất: Đ và P đi trước, Đ sẽ chạy ra bùng binh Gò Dầu canh đường, P2 ở lại chờ Nguyễn Duy K1 tới đón đi lấy đồ (ma túy) để vận chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh giao cho người khác, thông tin và địa chỉ sẽ báo sau. Đồng thời, P điện thoại cho K1 thông báo “có đồ đi S” kêu K1 điều khiển xe ô tô đến quán cà phê Lộc V1 đón P2 đi cùng đến khu vực Cầu Đ, thuộc ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh để nhận thùng ma túy tiếp tục vận chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, ngay khi nhận thùng ma túy từ T, P điều khiển xe chở thùng ma túy đến khu vực Cầu Đ (cách Cầu Đ khoảng hơn 100 mét) cất giấu thùng ma túy trong bụi rậm bên lề đường và đứng chờ. P gọi điện cho Đ kêu Đ điều khiển xe mô tô Satria biển số 70C1-364.37 chạy từ khu vực vòng xoay thuộc thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh đến khu vực Bệnh viện X2 thuộc huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để canh lực lượng Công an cho P2 và K1 vận chuyển ma túy.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày 01/8/2022, K1 điều khiển xe ôtô hiệu Kia Soluto biển số 70E-000.56 chở P2 đến điểm hẹn gặp P. Tại đây, P2 xuống xe ô tô và cùng với P mang thùng ma túy từ trong bụi rậm ven đường đến phía sau xe ô tô. K1 mở cốp sau xe cho P2 đẩy thùng ma túy vào trong cốp sau xe ô tô rồi tiếp tục chở P2 cùng thùng ma túy đi trên Quốc lộ B theo hướng về Thành phố Hồ Chí Minh. P điều khiển xe mô tô đi ngay phía trước xe ô tô của K1. Trên đường đi, P nhắn tin số điện thoại 0933.310.xxx của người nhận ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh và mật khẩu khi giao ma túy là “mua banh pia soc trang” cho K1, sau đó, K1 nói lại cho P2 biết. Khi vận chuyển đến khu vực cầu T thuộc khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe, mở cửa để kiểm tra nhưng K1 không chấp hành nên bị lực lượng công an đập vỡ kính cửa xe, bắt quả tang K1 và P2. Lúc này, P phát hiện K1 và P2 bị lực lượng Công an bắt giữ thì điện thoại cho Đ đang canh đường tại khu vực Bệnh viện X2 thuộc huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, kêu Đ gửi xe vào Bệnh viện X2 rồi thuê xe ô tô Grap đến Bệnh viện C1 đón P cùng đi đến Cửa khẩu T thuộc tỉnh Long An tìm cách trốn sang Campuchia. Ngay sau đó, P điều khiển xe mô tô biển số 70C1-177.18 đến gửi tại Bệnh viện huyện C1 và chờ Đ đến đón. Khi P và Đ đang tìm cách trốn sang Campuchia thì bị bắt giữ.

Ngoài lần bị bắt, các bị cáo còn khai nhận trước đó vào ngày 22/7/2022, P nhận khoảng 06kg ma túy từ người không rõ họ tên, địa chỉ ở Campuchia vận chuyển vào Việt Nam rồi thuê K1 điều khiển xe ô tô taxi biển số 70E-000.56 cùng P vận chuyển đến khu vực huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giao người nữ (không rõ họ tên, địa chỉ). P nhận tiền công 60.000.000 đồng, đã trả tiền công cho K1 5.000.000 đồng nên còn hưởng lợi 55.000.000 đồng

Ngày 27/7/2022, P nhắn tin gửi số điện thoại +85566912698 của người giao ma túy bên phía Campuchia cho T, T gửi cho K. K điều khiển xe mô tô biển số 53S9-4414 đến khu vực chợ B1, Vương quốc Campuchia nhận 02 thùng ma túy đem về Việt Nam giao lại cho T, T giao lại cho P. Sau đó, P đã thuê K1 điều khiển xe ô tô biển số 70E-000.56 vận chuyển 02 thùng ma túy này đi Thành phố Hồ Chí Minh giao lại cho người khác (không rõ nhân thân, lại lịch). P2 và Đ cảnh giới. P nhận tiền công là 504.000.000 đồng, trả tiền công cho P2 5.000.000 đồng, K1 10.000.000 đồng, Đ 5.000.000 đồng, T và K 120.000.000 đồng (T 40.000.000 đồng, K 80.000.000 đồng), P còn hưởng lợi 364.000.000 đồng.

Phan Văn K đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý (tội “Buôn lậu”) chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi vận chuyển 50 bao thuốc lá điếu hiệu Hero nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam vào ngày 01/8/2022.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 89/2023/HSST ngày 30-11-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng P (S), Nguyễn Văn T, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 (Mọi), Lâm Gia Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Phan Văn K phạm hai tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy và Vận chuyển hàng cấm”.

  1. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P (S) – Tử hình; về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  2. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T - Tử hình; về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  3. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn K – Tử hình; về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn K 06 (sáu) tháng tù; về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  4. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K1 – Tử hình; về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  5. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Tấn P2 (Mọi) – Tử hình; về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  6. Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Gia Đ tù Chung thân; về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-8-2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nộp lại tiền thu lợi bất chính, tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước, tịch thu tiêu hủy, tuyên trả cho các bị cáo, phạt tiền bổ sung, giải quyết về lệnh kê biên, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06-12-2023, các bị cáo Nguyễn Văn T, Võ Tấn P2, Nguyễn Duy K1, Phan Văn K2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Ngày 11-12-2023, các bị cáo Lâm Gia Đ, Nguyễn Hồng P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 08-12-2023, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L có đơn kháng cáo một phần bản án hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Hồng P trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khác, vì các bị cáo khác thực sự không biết đó là ma túy.

Bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm.

Lần một, bị cáo canh đường cho K từ siêu thị miễn thuế về công viên mặt trời; lần hai, bị cáo nhắn tin số của K cho bị cáo P. Bị cáo nhận hàng từ K, bị cáo K nhờ bị cáo nhận 100 cây thuốc lá, còn thùng hàng thì nói bị cáo giao cho P. Bị cáo không trực tiếp nhận hàng và không nghĩ đó là ma túy. Bị cáo K trả công cho bị cáo 40.000.000đ. Qúa trình điều tra bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo đã nộp thu lời bất chính. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo P, bị cáo T: đối với bị cáo P, việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với kháng cáo của bị cáo.

Đối với bị cáo T: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái, khai nhận ra hành vi phạm tội trước đó của mình, có ông nội là thương binh. Số ma túy 19 kg đã bị tịch thu toàn bộ, xem như một phần đã hạn chế được hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Phan Văn K trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lần một, bị cáo nhận chuyển hàng hóa từ Campuchia về M với thỏa thuận là 9.000.000đ/kg, thực nhận là 120.000.000đ, bị cáo chia cho T 40.000.000 đồng. Lần hai, nhận hàng từ Cam puchia vận chuyển về A giao cho T, bị cáo chở 100 cây thuốc giao cho mẹ bị cáo T. Bị cáo không biết đó là ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn K trình bày: Thống nhất về mặt tội danh. Tuy nhiên, trình độ văn hóa bị cáo thấp, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Duy K1 trình bày: Bị cáo không biết hàng vận chuyển là ma túy, chỉ biết là hàng cấm. Bị cáo chạy taxi hợp tác cho Công ty L1, bị cáo hợp đồng với Long S2 3 năm. Tiền đóng hàng tháng cho công ty. Trước đó, bị cáo P có đi xe của bị cáo. Bị cáo P đi nên cũng có quen biết bị cáo. Xe do vợ bị cáo đứng tên. Vì vậy, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Giải quyết vấn đề chiếc xe cho vợ bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy K1 trình bày: Bản thân bị cáo K1 là lái xe chuyện nghiệp, bị cáo không biết đó là ma túy.

Khi được giám định ra thì bị cáo mới biết đó là ma túy, ý thức chủ quan của bị cáo ngay từ đầu không phải là kiếm sống bằng nghề đó. Bản thân vợ bị cáo cũng là công chức.

Ngày 01-8-2022, tại quán C có P2, Đ có những người này ngồi trao đổi với nhau, nên việc P, hay P2 gọi cho K1 là thụ động, chứ không phải là được phân công trước. K1 có nhận 10.000.000₫ nhưng đã trả giùm cho P 7.000.000đ, thực nhận có 3.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm a, g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự để giảm hình phạt mức án Chung thân đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe: đề nghị tuyên trả xe cho bà L.

Bị cáo Võ Tấn P2 trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Số điện thoại mà bị cáo gọi là do bị cáo K1 đưa, bị cáo không biết đó là ma túy, bị cáo được nhận tiền công là 5.000.000đ.

Người bào chữa cho bị cáo Võ Tấn P2 trình bày: bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo tự thú về hành vi phạm tội; học vấn thấp; nhận thức chưa tới; bị cáo là lao động duy nhất; hoàn cảnh gia đình khó khăn; cha, mẹ già; bà nội bị cáo là bà M Việt Nam anh hùng. Đề nghị áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo với mức án tù có thời hạn.

Bị cáo Lâm Gia Đ trình bày: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Vai trò của bị cáo là cảnh giới không có sự bàn bạc hay hứa hẹn. Chỉ nói bị cáo là canh đường. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

Người bào chữa cho bị cáo Lâm Gia Đ trình bày: mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là quá nặng; bị cáo chỉ là người canh đường nên hưởng hoa hồng; chỉ biết hàng vận chuyển là hàng cấm nhưng không biết hàng gì; tại phiên tòa bị cáo khai phù hợp với lời khai của các bị cáo khác; bị cáo ăn năn hối cải. Đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L trình bày: yêu cầu được trả lại xe ô tô biển kiểm soát 70E-000.56.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L làm trong hạn luật định đề nghị xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay, có đủ căn cứ xác định, ngày 01/8/2022, K vận chuyển ma túy loại Ketamine, khối lượng 19.651,9791 gam được đựng trong 01 thùng giấy cùng với thuốc lá điếu hiệu Hero xếp phía trên thùng để ngụy trang từ C về Việt Nam giao cho T, T giao lại cho P, P giao cho K1 chở P2 vận chuyển xuống Thành phố Hồ Chí Minh; Đ canh đường. Trên đường vận chuyển thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hồng P (S), Nguyễn Văn T, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2, Lâm Gia Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Phan Văn K phạm hai tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy và Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250 và điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hồng P rút đơn kháng cáo, đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đổi với kháng cáo của bị cáo.

Đối với kháng cáo của các bị cáo T, K, K1, P2, Đ: T, K, K1, P2, Đ phạm tội nhiều lần; phạm tội có tổ chức; đây là tình tiết tặng nặng được quy định tại điểm a, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo K phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra tất cả các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; đồng thời khai ra những lần phạm tội trước đó; ông nội bị cáo T là thương binh, tiền thu lợi bất chính bị cáo T đã nộp xong; chú bị cáo K là Liệt sỹ; bà nội của bị cáo P2 là Mẹ Việt Nam anh hùng; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm s, r khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới cho yêu cầu kháng cáo của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Đối với kháng cáo của bà Lê Thị Bích L: chiếc xe là công cụ, phương tiện phục vụ cho hành vi phạm tội, cho nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà L.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hồng P, Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2, Lâm Gia Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L làm trong hạn luật định, được Hội đồng phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hồng P xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.

[2] Về nội dung:

Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2, Lâm Gia Đ đều thừa nhận hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc tây từ Campuchia về Việt Nam thì bị bắt, không biết đó là ma túy. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của các bị cáo, bản tự khai của các bị cáo; biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo như sau:

Nguyễn Hồng P quen người đàn ông tên T (không rõ họ tên, địa chỉ). T giới thiệu và cho số điện thoại người đàn ông Việt Nam (không rõ họ tên, địa chỉ) đang tìm người thuê vận chuyển ma túy từ Campuchia về Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, P kết bạn với người đàn ông này thông qua mạng xã hội T8, hai bên thỏa thuận tiền công vận chuyển 01kg ma túy là 18.000.000 đồng.

Sau đó, P sử dụng số điện thoại 0785.476.xxx gọi cho Nguyễn Văn T số điện thoại 0918.677.xxx rủ T tham gia vận chuyển ma túy từ Campuchia vào Việt Nam, tiền công từ 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/01kg, đồng thời P kêu T rủ thêm người, T đồng ý.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 26/7/2022, T gọi điện thoại cho Phan Văn K số điện thoại 0889.388.xxx hẹn gặp nhau uống cà phê tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế M1. T nói cho K nghe về việc P thuê vận chuyển ma túy, thì K đồng ý. TK thỏa thuận khi nào có ma túy thì T cung cấp số điện thoại của người giao hàng ở Campuchia để K trực tiếp liên hệ nhận và vận chuyển ma túy đến khu vực đối diện chốt Biên phòng Tà Peng thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M1 thì dừng lại, khi lực lượng Biên phòng thay ca trực sẽ vận chuyển ma túy qua; T có nhiệm vụ cảnh giới cho K vận chuyển ma túy đến khu vực xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì giao lại cho T, T sẽ giao cho P; T là người liên hệ với P nhận tiền công vận chuyển về chia nhau.

Khoảng 14 giờ 30 ngày 01/8/2022, P điện thoại cho T kêu gửi số điện thoại của K để P cho số điện thoại người giao ma túy ở Campuchia; T gửi số điện thoại 0889.388.xxx của K cho P nhưng không liên lạc được; P đã nhắn tin số điện thoại +85566912698 (nhà mạng Campuchia) cho T để T chuyển cho K liên lạc nhận ma túy. Sau khi nhận được số điện thoại, K điều khiển xe mô tô biển số 53S9–4414 đến khu vực chợ B1 (còn gọi là chợ B2) thuộc Vương quốc Campuchia liên lạc thì có một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ giao ma túy đã được đóng gói ngụy trang trong thùng giấy catton bên ngoài có chữ Hero. Sau khi nhận được ma túy, K gọi điện kêu T đến bãi xe container, phía sau siêu thị miễn thuế Mộc Bài canh đường; còn K chở thùng đựng ma túy và thuốc lá ngoại đến khu vực chốt biên phòng Tà Peng chờ thay đổi ca trực rồi điều khiển xe qua chốt thì gặp T tại khu vực siêu thị M2; T điều khiển xe mô tô Wave biển số 70L6-7873 chạy trước canh đường, khi đến khu vực ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì dừng xe lại, K mang thùng ma túy giao cho T rồi về nhà. T điện thoại cho P giao thùng ma túy tại ấp V, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh rồi chạy về.

Khi nhận thùng ma túy do T giao, P chở đến khu vực cách Cầu Đ khoảng hơn 100 mét cất giấu và đứng chờ. P gọi điện kêu Đ điều khiển xe mô tô Satria biển số 70C1-364.37 chạy từ khu vực vòng xoay thị trấn G đến khu vực Bệnh viện X2 thuộc huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để canh đường cho P2K1 vận chuyển ma túy.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày 01/8/2022, K1 điều khiển xe ôtô hiệu Kia Soluto biển số 70E-000.56 chở P2 đến gặp P. Tại đây, P2, P, K1 mang thùng ma túy bỏ vào trong cốp sau xe ô tô; K1 điều khiển chở P2 cùng thùng ma túy đi trên Quốc lộ B theo hướng về Thành phố Hồ Chí Minh. P điều khiển xe mô tô chạy phía trước xe ô tô của K1. Trên đường đi, P nhắn tin số điện thoại 0933.310.xxx của người nhận ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh và mật khẩu khi giao ma túy là “mua banh pia soc trang” cho K1; K1 nói lại cho P2 biết. Khi vận chuyển đến khu vực cầu T thuộc khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an bắt quả tang K1P2. Biết K1P2 bị bắt, P điện thoại cho Đ kêu gửi xe vào Bệnh viện X2 rồi thuê xe ô tô đến Bệnh viện C1 đón P cùng đi đến Cửa khẩu T thuộc tỉnh Long An trốn sang Campuchia thì bị bắt giữ.

Tại Kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: mẫu chất rắn bên trong 20 bịch nylon thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng là 19.651,9791 gam.

Ngoài lần bị bắt, các bị cáo còn khai nhận trước đó vào ngày 22/7/2022, P nhận khoảng 06kg ma túy từ người không rõ họ tên, địa chỉ ở Campuchia vận chuyển vào Việt Nam thuê K1 điều khiển xe ô tô taxi biển số 70E-000.56 cùng P vận chuyển đến khu vực huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh giao người nữ (không rõ họ tên, địa chỉ). P nhận tiền công 60.000.000 đồng, trả tiền công cho K1 5.000.000 đồng, thu lợi bất chính 55.000.000 đồng.

Ngày 27/7/2022, P nhắn tin gửi số điện thoại +85566912698 của người giao ma túy bên phía Campuchia cho T, T gửi cho K, K qua Campuchia nhận 02 thùng ma túy vận chuyển vào Việt Nam giao lại cho T. T giao lại cho P. Sau đó, P đã thuê K1 điều khiển xe ô tô biển số 70E-000.56 vận chuyển 02 thùng ma túy xuống Thành phố Hồ Chí Minh giao lại cho người khác (không rõ nhân thân, lại lịch). P2Đ cảnh giới cho PK1 vận chuyển ma túy. P nhận tiền công là 504.000.000 đồng, trả tiền công cho P2 5.000.000 đồng, K1 10.000.000 đồng, Đ 5.000.000 đồng, TK 120.000.000 đồng (T 40.000.000 đồng, K 80.000.000 đồng), P còn hưởng lợi 364.000.000 đồng.

Phan Văn K đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý (tội Buôn lậu), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi vận chuyển ma túy cùng với thuốc lá điếu nhập lậu vào Việt Nam ngày 01/8/2022.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định, ngày 01/8/2022, K vận chuyển ma túy loại Ketamine, khối lượng 19.651,9791 gam được đựng trong 01 thùng giấy cùng với thuốc lá điếu hiệu Hero xếp phía trên thùng để ngụy trang từ C về Việt Nam giao cho T, T giao lại cho P, P giao cho K1 chở P2 vận chuyển xuống Thành phố Hồ Chí Minh; Đ canh đường. Trên đường vận chuyển thì bị bắt quả tang. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hồng P(S), Nguyễn Văn T, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2, Lâm Gia Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Phan Văn K phạm hai tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy và Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 250 và điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.1]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

Đối với bị cáo Nguyễn Duy K1: căn cứ các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra có đủ cơ sở xác định bị cáo có hai lần giúp sức cho P vận chuyển ma túy. Bị cáo là người lái taxi chuyên nghiệp, căn cứ các lời khai đủ cơ sở xác định bị cáo biết rõ là hàng cấm nhưng vẫn vận chuyển. Cho dù nếu bị cáo không biết hàng vận chuyển là ma túy thì bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Lâm Gia Đ: Tại cấp sơ phúc thẩm, các bị cáo đồng loạt thay đổi lời khai, không thừa nhận việc biết hàng vận chuyển là ma túy. Tuy nhiên căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, các lời khai của các bị cáo. Đủ cơ sở các định các bị cáo biết việc vận chuyển trái phép chất ma túy, phân công vai trò, nhiệm vụ của từng bị cáo, các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy vận chuyển.

Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, khối lượng ma túy lớn. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không trình bày được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào khác cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, K, Đ, K1.

[2.2]. Xét kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L:

Chiếc xe ô tô hiệu KIA SOLUTO, biển số: 70E-000.56; số máy: G4LCL1065087; số khung: RNYAC41A4LC198528 (kính cửa xe bị bể hoàn toàn, kính chắn gió phía trước bị nứt, bể; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động). (kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số N: EA.1086883);

Đây là công cụ, phương tiện trực tiếp dùng vào việc phạm tội nên cấp sơ thẩm tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bà L trình bày là đồng sở hữu tài sản, yêu cầu hoàn trả tài sản nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo

[3]. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355; Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Hồng P (Sò Em); Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tội danh và phần hình phạt đối với bị cáo P có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 (Mọi), Lâm Gia Đ, Phan Văn K; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Bích L.

Tuyên xử: các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 (Mọi), Lâm Gia Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Phan Văn K phạm hai tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và “Vận chuyển hàng cấm”.

  • * Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  • * Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phan Văn K Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phan Văn K phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  • * Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K1 Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  • * Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40, 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Võ Tấn P2 (Mọi) Tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  • * Căn cứ điểm e khoản 4 Điều 250; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39, 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lâm Gia Đ tù Chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02-8-2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo Nguyễn Hồng P, Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 được quyền gửi đơn xin ân giảm án Tử hình lên Chủ tịch N3 trong thời hạn 07 (Bảy) ngày, kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

3. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước gồm các tài sản sau:

  • + 01 (một) xe ô tô hiệu KIA SOLUTO, biển số: 70E-000.56; số máy: G4LCL1065087; số khung: RNYAC41A4LC198528 (kính cửa xe bị bể hoàn toàn, kính chắn gió phía trước bị nứt, bể; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động). (kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số N: EA.1086883);

4. Về án phí:

  • Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Hồng P (S), Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 (Mọi), Lâm Gia Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng.
  • - Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn K, Nguyễn Duy K1, Võ Tấn P2 (Mọi), Lâm Gia Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: bà Lê Thị Bích L 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng thi hành án hình sự- TAND tỉnh Tây Ninh (6B);
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo (qua trại 6B);
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP (DTTP 25b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tô Ngọc

Các thẩm phán

Phạm Trí Tuấn
Nguyễn Văn Minh

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Phan Tô Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 595/2024/HS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm (vận chuyển trái phép chất ma túy và vận chuyển hàng cấm)

  • Số bản án: 595/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Vận chuyển trái phép chất ma túy và Vận chuyển hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger