TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 593/2024/HS-ST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chu Mạnh Tường;
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 567/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 635/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Đặng Bảo S; sinh năm: 1991; tại: Bình Phước; Thường trú: tổ E, Ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tiến P và bà Nguyễn Thị N; có vợ 02 con, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: không; Tiền án: ngày 04/10/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí ngày 01/8/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
2/ Nguyễn Bá Đại H (tên gọi khác: “H1”); Sinh năm 1990; tại Quảng Trị; Thường trú: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: số B đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá L và bà Trần Thị T; có vợ 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
- Ngày 09/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, xe đạp có giá trị 700.000 đồng.
- Ngày 23/11/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phúc thẩm tuyên phạt H 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 184/2011/HSPT, đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí.
- Ngày 25/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 274/2011/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí.
- Ngày 28/8/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 19/2019/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Bị hại:
- Chị Đặng Thị H2; sinh năm 2004; Địa chỉ: số D đường C, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chị Hồ Thị T1; sinh năm 1991; Địa chỉ: số D đường C, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(tất cả vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Viết T2 – sinh năm 1965; Địa chỉ: 2 Chung cư C đường Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Chị Đặng Kim N1 – sinh năm 1994; Địa chỉ: số C đường B, khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(tất cả vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 02 giờ ngày 05/01/2024, Đặng Bảo S nhận được điện thoại của một thanh niên tên T3 (chưa xác định lai lịch) quen ngoài xã hội rủ đi tìm tài sản trộm cắp thì S đồng ý. S điều khiển xe mô tô biển số 54S8-5655 đến phía sau chợ đầu mối Nông sản thực thẩm thành phố T thì gặp T3. Sau đó, T3 điều khiển xe trên chở S đi tìm tài sản lấy trộm. Khi cả hai đến trước nhà số D đường số C, khu phố E, phường H, thành phố T thì T3 phát hiện nhà đang sửa chữa tại tầng 1 nên dừng xe. T3 đứng dưới đất dùng vai làm cầu thang để S trèo lên tầng 1 của nhà trên. Sau đó, S đi vòng xuống tầng trệt bấm nút cửa cuốn mở cửa để T3 vào trong nhà. T3 dẫn 01 xe mô tô honda SH Mode biển số 70H1-374.47 của chị Đặng Thị H2 ra trước cửa nhà (chìa khóa cắm sẵn trên xe). Tiếp tục T3 vào trong nhà dẫn 01 xe mô tô Airblade biển số 59M2-000.37 của chị Hồ Thị T1 ra ngoài cửa (chìa khóa cắm sẵn trên xe). Sau đó T3 điều khiển xe mô tô Honda SH mode biển số 70H1-374.47 chạy đi trước còn S điều khiển xe mô tô biển số 54S8-5655 chạy theo sau. T3 điều khiển xe đến quán nhậu ở đầu đường A khu B, khu phố B, phường B, thành phố T và gọi điện thoại cho Nguyễn Bá Đại H qua zalo hỏi mua 02 xe mô tô không thì H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 74L1-325.22 chở vợ tên Lê Thị Cẩm N2 đến quán nhậu trên gặp T3, H nói với chị N2 là đi công việc. Sau đó, T3 điều khiển xe mô tô biển số 54S8-5655 chở S quay trở lại nhà trên, T3 lấy tiếp 01 xe mô tô Airblade biển số 59M2-000.37 chạy trước, S điều khiển xe mô tô biển số 54S8-5655 theo sau, cả hai chạy về quán lẩu gặp H. Huynh xem 02 xe do T3 và S vừa trộm được thì đồng ý mua xe mô tô Honda SH Mode biển số 70H1-374.47 giá 12.000.000 đồng và xe mô tô Airblade biển số 59M2-000.37 giá 5.000.000 đồng. Huynh biết rõ 02 xe trên do phạm tội mà có nhưng vẫn mua. Sau đó, H đưa tiền mặt cho T3 rồi H và N2 điều khiển mỗi người một xe vừa mua được ra về. Chị N2 không biết xe do phạm tội mà có. Sau khi T3 nhận tiền từ H thì chia cho S 6.000.000 đồng, S dùng tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng 07 giờ cùng ngày 05/01/2024, H gọi điện thoại cho người tên L1 (chưa xác định) có số điện thoại 0974.354.xxx thì L1 đồng ý mua và hẹn giao xe tại cửa khẩu T4, huyện Đ, tỉnh Long An. H điều khiển xe Honda SH Mode biển số 70H1-374.47 gặp L1 tại cửa khẩu T4 bán giá 14.500.000 đồng. H nói còn 01 xe nữa muốn bán thì L1 nói H mang đến cho L1 mua. Huynh đón xe ôm quay về lấy tiếp xe mô tô Airblade biển số 59M2-000.37 rồi điều khiển xe quay lại cửa khẩu bán cho L1 giá 7.000.000 đồng, cả hai xe Huynh hưởng lợi được 4.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân.
Ngoài ra, ngày 19/10/2023, S khai cùng T3 thực hiện 01 vụ trộm cắp khác trên địa bàn phường H, thành phố T rồi mang tài sản (02 máy laptop, 02 đồng hồ và 01 máy lọc âm thanh) đi bán cho H.
Qua xác minh tại Công an phường H có kết quả: không có ai đến trình báo bị mất những tài sản như trên vào tháng 10/2023.
Qua truy xét, ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T mời Đặng Bảo S và Nguyễn Bá Đại H đến làm việc, S và H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T số 61-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2024 kết luận, xe mô tô Honda SH mode biển số 70H1-374.47 giá trị 32.667.000 đồng, xe mô tô Honda Airblade biển số 59M2-000.37 có giá trị 15.933.000 đồng. Tổng giá trị 02 xe bị chiếm đoạt là 48.600.000 đồng.
Vật chứng vụ án :
- 01 xe mô tô Honda SH Mode biển số 70H1-374.47 (của chị T1 không thu hồi được).
- 01 xe mô tô Honda Airblade biển số 59M2-000.37 (của chị H2 không thu hồi được).
- 01 xe mô tô biển số 54S8-5655.
- 01 thiết bị phá sóng màu đen.
- 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh hiện trường.
Kết quả xác minh, xe mô tô biển số 54S 8-5655 do anh Trần Viết T2 đứng tên chủ sở hữu. Anh T2 khai xe trên đã bán cho người khác vào năm 2010 nhưng không làm giấy tờ sang tên. S khai mua xe trên của người tên H3 (không rõ lai lịch) và đã bán cho em gái tên Đặng Kim N1 nhưng không làm thủ tục sang tên. Chị N1 mua xe của S giá 5.000.000, đã trả 4.500.000 đồng, còn nợ 500.000 đồng. Sau đó chị N1 cho S mượn xe làm phương tiện đi lại, S dùng xe đi trộm cắp chị N1 không biết.
Trách nhiệm dân sự:
- Chị Đặng Thị H2 yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng.
- Chị Hồ Thị T1 yêu cầu bồi thường 35.000.000 đồng.
[2] Bản Cáo trạng số 514/CT-VKSTPTĐ ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố:
- Bị cáo Đặng Bảo S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Nguyễn Bá Đại H về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo S thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo S phải bồi thường theo yêu cầu của các bị hại. Buộc bị cáo H nộp lại tiền thu lợi bất chính để nộp vào Ngân sách nhà nước. Mức án đề nghị:
- Bị cáo Đặng Bảo S từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Bị cáo Nguyễn Bá Đại H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo sớm trở về với xã hội, có điều kiện làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại nhà số D đường số C, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đặng Bảo S cùng T3 (chưa rõ lai lịch) đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda SH Mode biển số 70H1-374.47 của chị Hồ Thị T1 theo định giá trong tố tụng hình sự có trị giá 32.667.000 đồng, 01 xe mô tô Honda Airblade biển số 59M2-000.37 của chị Đặng Thị H2 theo định giá là 15.933.000 đồng. Tổng giá trị 02 xe bị chiếm đoạt theo định giá trong tố tụng hình sự là 48.600.000 đồng. Sau đó, T3 và S mang 02 xe trên bán cho bị cáo Nguyễn Bá Đại H, bị cáo H biết rõ xe trên do trộm cắp mà có nhưng vì ham lợi vẫn mua để hưởng lợi bất chính.
Như vậy có cơ sở kết luận bị cáo Đặng Bảo S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Bá Đại H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Bảo S là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Bị cáo Nguyễn Bá Đại H đã tiếp tay, khuyến khích cho tội phạm, đồng thời gây khó khăn cho Cơ quan điều tra trong việc điều tra, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, hành vi này trực tiếp xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng. Vì vậy cần xử lý các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
Trong vụ án này bị cáo Đặng Bảo S phạm tội 02 lần trở và có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có nhân thân xấu.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc về hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt khi lượng hình.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với người tên T3 đi trộm cùng bị cáo S, người tên L1 mua xe do bị cáo H bán lại chưa xác minh được lai lịch nên Cơ quan Điều tra Công an thành phố T tách vụ án hình sự, ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô biển số 54S8-5655: Kết quả xác minh, xe mô tô biển số 54S8-5655 do anh Trần Viết T2 đứng tên chủ sở hữu. Anh T2 khai xe trên đã bán cho người khác vào năm 2010 nhưng không làm giấy tờ sang tên. S khai mua xe trên của người tên H3 (không rõ lai lịch) và đã bán cho em gái tên Đặng Kim N1 nhưng không làm thủ tục sang tên. Chị N1 mua xe của S giá 5.000.000 đồng, đã trả 4.500.000 đồng, còn nợ 500.000 đồng. Sau đó chị N1 cho S mượn xe làm phương tiện đi lại, S dùng xe đi trộm cắp chị N1 không biết. Hội đồng xét xử nhận thấy xe không xác định được chủ sở hữu, không có giấy tờ hợp lệ và bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần thông báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc xe trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước.
- 01 thiết bị phá sóng màu đen không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy
- 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh hiện trường tiếp tục lưu trữ kèm hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự:
Chị Đặng Thị H2 yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng, chị Hồ Thị T1 yêu cầu bồi thường 35.000.000 đồng. Xét tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được, bị cáo S đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, vì vậy yêu cầu của bị hại là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, nên buộc bị cáo Đặng Bảo S bồi thường cho các bị hại số tiền nêu trên.
Bị cáo Nguyễn Bá Đại H hưởng lợi từ việc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có số tiền 4.500.000 đồng, vì vậy buộc bị cáo nộp lại số tiền này để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Đặng Bảo S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Bá Đại H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
1/ Xử phạt: Bị cáo Đặng Bảo S 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024
Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
2/ Xử phạt: bị cáo Nguyễn Bá Đại H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh hiện trường.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thiết bị phá sóng màu đen.
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ, đen biển số 54S8-5655, số máy: 5C63365073, số khung: RLCS5C630AY365020. Hết thời hạn 6 tháng mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để nộp ngân sách nhà nước.
(Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK ...ngày ... của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- Căn cứ điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Đặng Bảo S bồi thường cho chị Đặng Thị H2 số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng), bồi thường cho chị Hồ Thị T1 số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án, còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Đặng Bảo S phải nộp 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 593/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 593/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Bảo Sơn - TCTS
