Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 593/2024/HS-ST

Ngày: 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam;

Bà Vương Thị Khánh Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 598/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 596/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng T, năm 1970 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT: SỐ C, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoàng L (đã chết); gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út, có vợ tên Trương Thị Tuyết L1 (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2007 và 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Đình Q – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: 1, khu phố I, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Nguyên đơn dân sự: Chi cục thuế khu vực B – V.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị L2, sinh năm: 1973 – Chức vụ: Đội trưởng, Đội kiểm tra nội bộ, Chi cục Thuế Khu vực B – V.

Địa chỉ: Số B Cách mạng tháng H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Tiến T1, sinh năm: 1965.

    Địa chỉ: Khu dân cư P, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  2. Ông Vũ Bá L3, sinh năm: 1956.

    Địa chỉ: A H, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  3. Ông Hoàng Thanh H, sinh năm: 1981.

    Địa chỉ: A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo T, luật sư Q, bà L2 có mặt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông T1, ông L3, ông H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Phạm Tiến T1 (sinh năm 1965) và vợ là bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1969), cùng cư trú tại địa chỉ: Khu dân cư P, khu phố C, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, là người có quyền sử dụng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 18, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai diện tích 6098,8m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CE 961358 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 01/12/2016). Do có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên, nên ông T1 liên hệ người quen nhờ tìm người nhận chuyển nhượng.

Tháng 01/2018, Hoàng Thanh H(sinh năm 1981, ĐKTT: Khu phố B, P. L, TP .), thời điểm này đang là giám đốc ngân hàng V chi nhánh Đ, được người quen nhờ giới thiệu để chuyển nhượng thửa đất trên của ông T1, bà X. Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Hoàng T quen biết với ông H và nhiều lần gặp gỡ, trao đổi công việc liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất của ông T1, bà X.

Sau khi tìm hiểu thông tin, T đứng ra liên hệ, môi giới cho ông T1 và bà X chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông Vũ Bá L3 (Sinh năm 1956, cư trú tại: 103, H, phường Q, TP ., tỉnh Đồng Nai) với giá là 33.000.000.000₫ (Ba mươi ba tỷ đồng). Ngày 07/02/2018, ông T1 và bà X ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông L3, tại Văn phòng C (địa chỉ: khu dân cư Ấ, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai), hai bên thống nhất xác lập hợp đồng chuyển nhượng với giá sang nhượng ghi trong hợp đồng là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng), nhằm làm giảm số tiền thuế, phí phải nộp cho Ngân sách nhà nước.

Theo thoả thuận giữa T và ông T1, giá chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất là 33.000.000.000đ (Ba mươi ba tỷ đồng). Trong đó, ông T1 là người chuyển nhượng sẽ được nhận số tiền 29.000.000.000₫ (Hai mươi chín tỷ đồng), còn ông T1 trả cho T 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng) tiền công môi giới. Sau khi nhận tiền từ ông T1, T chi cho ông Hoàng Thanh H số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), vì ông H là người có công giới thiệu thửa đất và người nhận chuyển nhượng cho T. Còn lại số tiền 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) T giữ lại để chi phí vào việc cá nhân.

Nguyễn Hoàng T đã nhận được số tiền 3.500.000.000đ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng), từ việc môi giới bất động sản. Nhưng T cố tình trốn tránh, không kê khai và không nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu trên, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 1.069.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng). Ngày 18/4/2024 Nguyễn Hoàng T đã bị khởi tố, điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án gồm:

  • Bản sao Hợp đồng chuyển nhượng (công chứng) quyền sử dụng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, giữa ông T1, bà X và ông L3 (lưu kèm hồ sơ vụ án).
  • Sao kê giao dịch Hoàng Thanh H nhận số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) từ Nguyễn Hoàng T, sau đó chuyển lại 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) cho T (lưu kèm hồ sơ vụ án).
  • Sao kê các giao dịch chuyển, nhận tiền giữa Hoàng Thanh H và Phạm Tiến T1 (lưu kèm hồ sơ vụ án).
  • Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 6573/KL-CT ngày 27/8/2019, của Cục thuế tỉnh Đ kết luận:
    • + Ông Nguyễn Hoàng T phải có trách nhiệm kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận số tiền 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) là tiền hoa hồng thông qua việc chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, diện tích 6.098,8m² là: 1.069.000.000₫ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng).
    • + Ông Hoàng Thanh H phải có trách nhiệm kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân khi nhận số tiền 500.000.000₫ là tiền hoa hồng thông qua việc chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, diện tích 6098,8m² là: 59.000.000đ (Năm mươi chín triệu đồng).
    • + Ông Vũ Bá L3 phải có trách nhiệm kê khai, nộp phí trước bạ chênh lệch của phần chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai, diện tích 6.098,8m² có giá thực tế là 29.000.000.000₫ (Hai mươi chín tỷ đồng) với giá sang nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng) là: 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).
    • + Ông Phạm Tiến T1 phải có trách nhiệm kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân chênh lệch khi chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai, diện tích 6.098,8m² có giá thực tế là 29.000.000.000₫ (Hai mươi chín tỷ đồng) với giá sang nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng) là: 480.000.000₫ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng).

Tại Cáo trạng số 484/CT-VKSBH ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 200, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trốn thuế”.

Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm.

Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp khắc phục thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước số tiền 1.069.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng).

Tại phiên tòa luật sư phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cụ thể: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; gia đình bị cáo đã đóng một phần tiền khắc phục hậu quả cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi 02 con nhỏ ăn học, đồng thời để tạo điều kiện cho bị cáo có thể đi làm kiến thu nhập nộp số tiền thuế còn phải đóng để khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, ông L3 và ông H tại phiên toà. Tòa án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Trong giai đoạn điều tra những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai, ngoài ra ông T1 và ông H đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hoàng T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:

Vào tháng 02/2018, Nguyễn Hoàng T đã có hành vi không kê khai và không nộp thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng), nhận được từ hoa hồng môi giới chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 18, tại phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai giữa vợ chồng ông Phạm Tiến T1, bà Nguyễn Thị X với ông Vũ Bá L3, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền thuế thu nhập cá nhân là 1.069.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm vào tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế của nhà nước làm giảm thu ngân sách nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế; Gây mất trật tự xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, phải ý thức được hành vi trốn thuế bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài ra gia đình của bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền thuế để khắc phục một phần hậu quả cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi con nhỏ ăn học nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo T đã có thời gian bị tạm giam hơn 05 tháng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 01 tình tiết ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra bị cáo có nơi cư trú rõ ràng (có xác nhận của địa phương) và việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù không làm ảnh hưởng đến khả năng tự cải tạo của bị cáo. Bị cáo T đủ điều kiện để được áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo cũng như vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 32, khoản 4 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bổ sung số tiền 40.000.000 đồng đối với bị cáo T.

[7] Về biện pháp tư pháp:

- Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp số tiền khắc phục thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước là 1.069.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng). Bị cáo đã nộp một phần số tiền khắc phục thiệt hại là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002770 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên HòB, bị cáo T còn phải nộp số tiền còn lại là 1.019.000.000 đồng (một tỷ không trăm mười chín triệu đồng).

[8] Về các vấn đề khác trong vụ án.

- Đối với bà Nguyễn Thị X (vợ của ông T1) không biết về việc thoả thuận giữa ông T1 và ông L3 về giá thực tế và giá ghi trong hợp đồng khi chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên. Quá trình giao dịch, giá cả do ông Phạm Tiến T1 thực hiện, bà X chỉ ký vào các giấy tờ thủ tục chuyển nhượng. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với bà X về các hành vi vi phạm pháp luật về thuế là đúng theo quy định.

- Đối với Văn phòng C, trong quá trình công chứng hợp đồng chuyển nhượng đã căn cứ theo cam kết của các bên liên quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp về các giấy tờ, về nhân thân, tài sản và các văn bản khác theo yêu cầu của Công chứng viên. Công chứng viên không biết việc vợ chồng ông T1, bà X và ông L3 đã khai giảm số tiền thực tế giao dịch và không biết về hành vi trốn phí nêu trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý hình sự là đúng theo quy định.

- Đối với ông Hoàng Thanh H đã nhận tiền hoa hồng công môi giới trong hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Tiến T1 và ông Vũ Bá L3, từ ông Nguyễn Hoàng T với số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước về thuế thu nhập cá nhân với số tiền là: 59.000.000₫ (Năm mươi chín triệu đồng). Ông H chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế và chưa bị kết án về các tội theo khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự, do đó hành vi của ông H không đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển hồ sơ đến Chi cục thuế thành phố B, để xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Thanh H về hành vi “Trốn thuế” là đúng theo quy định.

- Ông Vũ Bá L3 kê khai không đầy đủ và không nộp lệ phí trước bạ chênh lệch của phần chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., có giá thực tế là 29.000.000.000₫ (Hai mươi chín tỷ đồng) với giá sang nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng), gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước là: 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Hành vi của Vũ Bá L3 vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 143 Luật quản lý thuế và điểm d khoản 1 Điều 17 Nghị định số 125/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự về tội “Trốn thuế”, theo quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chuyển hồ sơ liên quan ông Vũ Bá L3 đến Chi cục thuế thành phố B để xử lý vi phạm về thuế và truy thu số tiền thuế đối với Vũ Bá L3 là đúng theo quy định pháp luật.

- Đối với hành vi của ông Phạm Tiến T1 là hành vi sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 bộ luật Hình sự. Số tiền chênh lệch khi chuyển nhượng thửa đất số 145, tờ bản đồ số 8, phường T, TP ., có giá thực tế là 29.000.000.000₫ (Hai mươi chín tỷ đồng) với giá sang nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng), gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước là: 480.000.000₫ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng). Căn cứ Điều 7, Điều 108, Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007; Điều 1 Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/6/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ T2, hành vi của ông Phạm Tiến T1 có dấu hiệu phạm tội “Trốn thuế” theo quy định của Điều 200 Bộ luật hình sự 2015. Ông Vũ Bá L3 dù biết việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng với giá sang nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn so với giá trị chuyển nhượng thực tế sẽ làm giảm số tiền thuế, phí phải nộp cho Ngân sách nhà nước của ông Phạm Tiến T1 nhưng vẫn đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng, nên hành vi của ông L3 là đồng phạm giúp sức cho ông Phạm Tiến T1 trốn thuế. Ngày 20/9/2024, Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung (số 51/2024/HSST-QĐ) để yêu cầu điều tra, truy tố hành vi này của ông Phạm Tiến T1, ông Vũ Bá L3. Tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà vẫn giữ nguyên quan điểm (tại Văn bản số 2264/CV-VKSBH-HS ngày 09/10/2024). Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông Phạm Tiến T1, ông Vũ Bá L3 theo quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án có một phần là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

[11] Xét lời bào chữa cho bị cáo của luật sư tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 200; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trốn thuế”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
    • - Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hoàng T số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
    • - Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T, nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp số tiền khắc phục thiệt hại về thuế cho Ngân sách Nhà nước là 1.069.000.000đ (Một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu đồng). Bị cáo đã nộp một phần số tiền khắc phục thiệt hại là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002770 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên HòB, bị cáo T phải nộp số tiền còn lại là 1.019.000.000 đồng (một tỷ không trăm mười chín triệu đồng).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
    • - Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - CQCS điều tra Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 593/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 593/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Th phạm tội "Trốn thuế"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger