Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 593/2024/DS-PT

Ngày 31-7-2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho

quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp

đồng thế chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán: Ông Dương Anh Văn

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 275/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2135/2024/QĐ-PT ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Cil Múp K, sinh năm 1976 và ông Rơ Ông Ha C, sinh năm 1981; Cùng trú tại: Thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Cil Ha D, sinh năm 1990; Trú tại: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản uỷ quyền ngày 17/6/2024, có mặt).
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Dương Đình N, thuộc Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh L (có mặt).
  4. Bị đơn: Bà Rơ Ông K1, sinh năm 1994; Trú tại: Thôn L, xã P, huyện L.
  5. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Dơng Gur Ha B, sinh năm 1972; Trú tại: Thôn L, xã P, huyện L (Văn bản uỷ quyền ngày 20/6/2024, có mặt).
  6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Dơng Gur Ha B1, sinh năm 1972 và bà Rơ Ông K2, sinh năm 1970; Cùng trú tại: Thôn L, xã P, huyện L (có mặt).
    2. Ông Cil Múp Ha D1, sinh năm 1955; Cư trú tại: Thôn L, xã P, huyện L (có mặt).
    3. Văn phòng C3; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1958; Chức vụ: Trưởng Văn phòng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    4. Ủy ban nhân dân huyện L; Địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh A; Chức vụ: Phó Chủ tịch. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    5. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L; Địa chỉ: Trung tâm Hành chính tỉnh L; số C đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

      Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Trung K3; Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện L (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    6. Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C5); Địa chỉ: Tổ D, thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Ngọc Á; Chức vụ: Trưởng văn phòng (có đơn xét xử vắng mặt).

    7. Ngân hàng N2 – Chi nhánh L1, Lâm Đồng.

      Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tiến T1; Chức vụ: Phó Giám đốc; Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (có đơn xét xử vắng mặt).

  7. Người kháng cáo: Bị đơn bà Rơ Ông K1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng Gur Ha B1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 1997, gia đình ông, bà có nhận chuyển nhượng diện tích 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L của ông Cil Múp Ha D1, khi nhận chuyển nhượng ông Ha D1 có chỉ ranh giới đất, có sự chứng kiến của ông Cil M Ha Pút là chủ đất liền kề giáp ranh và cắm mốc ranh giới rõ ràng. Trên đất thì ông Ha D1 đã canh tác trồng cây lúa nước. Sau khi nhận đất thì vợ chồng tôi đã trồng cây cà phê từ năm 1997 đến nay không tranh chấp với ai. Ngày 12/4/2009 tôi thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng đất cho ông Ha D1 và có lập 01 giấy viết tay sang nhượng thửa đất này và có chữ ký của ông Dơng G Ha Ba, ông Rơ Ông Ha C1 là người chứng kiến.

Tháng 3/2022, khi cơ quan Nhà nước tiến hành đo đạc diện tích đất của ông, bà thì bà Rơ Ô K’Lôi ngăn cản, cho rằng diện tích đất gia đình ông, bà đang sử dụng đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho bà R ông K' Lôi. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 xã P, huyện L.
  • Hủy một phần Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất được Công chứng tại Văn phòng C3; Số công chứng số 5743; Quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2021 giữa ông Dơng G Ha Ba và bà Rơ Ô K' Lôi đối với diện tích đất 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  • Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021 đối với diện tích 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  • Công nhận diện tích đất 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thuộc quyền sử dụng của bà Cil M K’Jang và ông Rơ Ông Ha C.

Bị đơn bà Rơ Ô K’ Lôi trình bày:

Năm 2000, bố bà là ông Dơng G Ha Ba có nhận chuyển nhượng của ông Cil M Ha Pút diện tích 14.282m² thuộc thửa 130, tờ bản đồ số 12, tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, đất có ranh giới rõ ràng và đến năm 2001 thì được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên Dơng Gur Ha B1. Sau khi nhận chuyển nhượng thì gia đình bà trồng cây cà phê và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Đến năm 2021, thì bố bà tặng cho bà và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số DB 952760 ngày 27/7/2021. Tuy nhiên, một phần diện tích thì bà K đang sử dụng. Do đó trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý và yêu cầu bà Cil M K’Jang và ông Rơ Ô Ha Chanh trả lại diện tích 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L cho gia đình bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng G Ha Ba trình bày:

Vào ngày 10/4/2000, ông có nhận chuyển nhượng diện tích 10.200m2 tại xã P, huyện L của ông Cil M Ha Pút với giá 3.218.926đồng và diện tích 25.350m² với giá 7.999.978đồng, có lập giấy sang nhượng đất viết tay, có sự chứng kiến của ông Cil M Ha Drai là chủ sử dụng đất giáp ranh, ông Liêng Hót Ha N1 và thôn trưởng ký vào xác nhận việc mua bán đất này. Đến tháng 7/2000, bà Cil M K’Jang từ Đam Rông đến sinh sống thì ông có cho mượn một phần đất để trồng hoa màu. Trên thửa đất ông đã trồng 10 gốc cây cà phê và chiều dài cũng trồng 10 gốc cây cà phê, tổng cộng là 100 gốc cà phê, bà K vừa chăm sóc cây cà phê cho ông vừa trồng cây ngắn ngày. Đến năm 2021, gia đình ông thống nhất tặng thửa đất 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L cho con gái là Rơ Ông K' Lôi và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Đối với diện tích đất tranh chấp, ông đã nhiều lần yêu cầu bà Cil M K’Jang trả lại đất nhưng bà cố tình tránh né. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông không đồng ý và đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Cil M K' Jang và ông R ông Ha C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cil M Ha Drai trình bày:

Năm 1997, ông có chuyển nhượng đất cho bà Cil M K’Jang với diện tích đất khoảng 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 xã P, huyện L, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, nguồn gốc đất do ông tự khai phá, sau khi thoả thuận chỉ ranh giới đất, cắm mốc rõ ràng, có sự chứng kiến của gia đình ông Cil M Ha Pút là chủ sử dụng đất giáp ranh. Sau khi chuyển nhượng thì ông đã bàn giao đất cho gia đình K’Jang quản lý sử dụng, đến năm 2009 thì bà K’ Jang thanh toán toàn bộ tiền chuyển nhượng đất cho ông theo thoả thuận. Ông đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Ngô Văn T có văn bản trình bày:

Ngày 17/6/2021, hộ ông D3 có đến Văn phòng yêu cầu công chứng Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất số S 342732 do UBND huyện L cấp ngày 13/4/2001. Qua kiểm tra các giấy tờ có liên quan đến Hợp đồng cần công chứng đầy đủ và hợp lệ, Văn phòng đã soạn thảo hợp đồng và làm đúng quy trình của Luật công chứng. Việc đương sự yêu cầu huỷ Hợp đồng công chứng số 5743, Quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2021, đề nghị căn cứ vào kết quả xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L (có đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Minh A) trình bày:

Năm 1999, ông Dơng G Ha Ba đăng ký xin cấp GCNQSDĐ (hiện nay đơn đăng kí đã bị thất lạc) và được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ với diện tích 28.436m², gồm 400m² đất ở nông thôn và 14.154m² đất trồng cây hàng năm và 13.822m² đất trồng cây lâu năm tại Quyết định số 645/QĐ-UB ngày 18/11/1999. Qua kiểm tra hồ sơ xét cấp GCNQSDĐ cho thấy trình tự, thủ tục xét cấp GCNQSDĐ được thực hiện theo Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính. Quá trình sử dụng GCNQSDĐ nêu trên thì phát hiện sai họ tên, do đó ngày 13/4/2001 UBND huyện L đã ban hành Quyết định 174/QĐ-UB về việc thu hồi và cấp lại GCNQSDĐ cho hộ ông Dơng G Ha Ba với lý do sai họ tên và cấp lại GCNQSDĐ số S 342732 ngày 13/4/2001. Như vậy, việc thu hồi và cấp lại GCNQSDĐ cho ông D2 Gur Ha Ba do sai họ tên là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số 342732 do UBND huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 9.000m², trình tự thủ tục cấp sổ, thu hồi và cấp lại GCNQSDD là đúng quy định pháp luật nên việc yêu cầu huỷ GCNQSDĐ là không có cơ sở.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (đại diện theo uỷ quyền ông Lê Trung K3) trình bày:

Ngày 18/6/2021, ông Dơng G Ha Ba nộp hồ sơ đăng ký biến động Quyền sử dụng đất. Chi nhánh đã thẩm định hồ sơ và trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L in Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất DB 952760 ngày 27/7/2021 theo bản đồ địa chính, không đo đạc lại, không xác minh thực tế.

Hồ sơ cấp lại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất năm 2001 đối với thửa đất số 130, tờ bản đồ 12 xã P của hộ ông Dơng G Ha Ba được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998. Việc nguyên đơn yêu cầu huỷ một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do UBND huyện L cấp ngày 13/4/2021 cho hộ ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 9.000m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12, xã P là không có căn cứ. Tại hồ sơ thu hồi, cấp lại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất năm 2001 căn cứ theo Luật Đất đai năm 1998 với lý do: Cấp sai tên, họ tại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cũ. Trường hợp người sử dụng đất có mua bán, trao đổi nhưng chưa làm thủ tục đăng ký biến động thửa đất thì căn cứ hồ sơ địa chính chứng nhận Quyền sử dụng đất DB 952760 là được cấp đổi từ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732.

Việc yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất được Văn phòng công chứng Ngô Văn T chứng thực số 5743, Quyển số 04/2021 TP/CC- SCC/HĐGD ngày 17/6/2021 và một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021 thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P là không có căn cứ. Lý do, Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện L thực hiện giải quyết hồ sơ tặng cho Quyền sử dụng đất nêu trên đúng theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/20014 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và trong quá trình giải quyết hồ sơ không phát sinh tình tiết bị hạn chế quyền theo Điều 188 Luật đất đai 2013.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N2 - Chi nhánh L1, Lâm Đồng trình bày:

Bà Rơ Ông K1 vay vốn tại A1, chi nhánh L1, Lâm Đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5491-LAV-202201872 ngày 20/6/2022; Số tiền vay: 300.000.000đ. Dư nợ đến ngày 12/7/2023 là 300.000.000đ. Thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/6/2025. Số tiền vay nêu trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491 TC 2260044 ngày 20/6/2022. Tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/7/2021 đối với thửa đất số 130, tờ bản đồ số 12, tổng diện tích 14.282m² tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo đúng quy định. Vì vậy, Ngân hàng đề nghị Toà án tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491 TC 2260044 ngày 20/6/2022 cho đến khi bà K1 thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C6 (nay là VPCC Đỗ Ngọc Á) trình bày:

Ngày 20/6/2022, VPCC Võ Thanh T2 (nay là Đỗ Ngọc Á) có nhận được yêu cầu công chứng Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất giữa bên thế chấp là bà Rơ Ô K’Lôi với bên nhận thế chấp là Ngân hàng N2 – Chi nhánh L1, Lâm Đồng. Sau khi kiểm tra hồ sơ đủ điều kiện công chứng nên Văn phòng đã chứng nhận Hợp đồng thế chấp, Số công chứng 3112, Quyển số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2022 đúng quy định pháp luật. VPCC đề nghị Toà án giữ nguyên Hợp đồng thế chấp nêu trên và giải quyết vụ án theo đúng quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 188, Điều 203 Luật Đất Đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng bà C2 Múp K'Jang, ông Rơ Ông Ha C về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất, huỷ Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bà Rơ Ô K’Lôi.

Công nhận diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông Rơ Ông Ha C và bà Cil Múp K.

Ông Rơ Ông Ha C và bà Cil M K'Jang được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai theo quy định.

(Kèm theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 02/02/2023).

Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 xã P, huyện L, Lâm Đồng.

Hủy một phần Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất được Công chứng tại Văn phòng C3, Số công chứng số 5743, Quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Dơng G Ha Ba và bà Rơ Ô K’Lôi đối với diện tích đất 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021 đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Huỷ một phần Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491TC2260044 ngày 20/6/2022, Số công chứng 3112, Quyển số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2022 giữa bà Rơ Ô K’Lôi với A1 - Chi nhánh L1, Lâm Đồng đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 18/9/2023, bị đơn bà Rơ K1 có đơn kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, xử bác toàn bộ yêu cầu khơi kiện của nguyên đơn.

Cùng ngày 18/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng G Ha Ba có đơn kháng cáo đề nghị hủy hoặc sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị đơn bà Rơ K1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dong Gur Ha B2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý quyết định án sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Rơ Ông Ha C và bà Cil M K’Jang có ông C2 Ha Drai là đại diện theo ủy quyền đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.

Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Về nội dung vụ án: Đại diện viện kiểm sát cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Đơn kháng cáo của bị đơn bà Rơ K1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Dong G1 Ha Ba trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Rơ Ô K’Lôi và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng Gur Ha B1, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp, nguyên đơn cho rằng do ông Cil M Ha Drai khai phá, còn người liên quan ông Dơng Gur Ha B1 cho rằng do ông Cil M Ha Pút khai phá, sau đó chuyển nhượng cho ông.

      Tại Giấy sang nhượng đất ngày 12/4/2009 giữa vợ chồng bà C2 Múp K’Jang, ông Rơ Ô Ha Chanh với ông Cil M Ha Drai có nội dung: Ông Cil M Ha Drai chuyển nhượng cho vợ chồng bà Cil M K’Jang diện tích khoảng 9.000m² tại xã P, huyện L; giữa hai bên có lập 01 giấy viết tay sang nhượng thửa đất này và có chữ ký của ông Dơng G Ha Ba, ông Rơ Ông Ha C1 thể hiện là người có đất liền kề ký giáp ranh. Tại Giấy sang nhượng đất ngày 10/4/2000 giữa ông Cil M Ha Pút với ông Dơng G Ha Ba có chữ ký xác nhận của ông Cil M Ha Drai là chủ sử dụng đất liền kề.

      Như vậy, khi các bên chuyển nhượng đất đã xác định được ranh giới, vị trí đất của người chuyển nhượng. Thực tế thể hiện diện tích thửa đất 130 là 14.282m², còn quá trình sử dụng đất thì ông Cil M Ha Pút không sử dụng phần diện tích mà ông Cil M Ha Drai chuyển nhượng cho bà K. Từ đó có thể khẳng định một phần thửa đất 130 mà hiện nay bà Cil M K’Jang đang quản lý sử dụng là của ông Cil M Ha Drai khai phá, sau đó chuyển nhượng cho bà Cil M K’Jang và ông Rơ Ông Ha C.

    2. Xét quá trình sử dụng thực tế phần đất đang tranh chấp thấy rằng, toàn bộ diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L đều do vợ chồng ông Ha C và bà K quản lý và sử dụng ổn định, liên tục từ năm 1997 đến nay, khi nhận đất canh tác đã chuyển đổi cây trồng từ cây lúa nước sang trồng cây cà phê là phù hợp với lời trình bày của ông Cil M Ha Drai.

      Tại phiên tòa phúc thẩm cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, ông Dơng Gur Ha B1 cho rằng sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông Cil M Ha Pút thì ông có cho vợ chồng bà K mượn để canh tác. Tuy nhiên, bà K không thừa nhận việc này và ông Dơng Gur Ha B1 cũng không có cung cấp được tài liệu nào thể hiện có việc cho mượn đất nên lời trình bày của ông D3 là không có cơ sở để xem xét.

    3. Đối với yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của nguyên đơn thấy rằng:
      1. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông D3 thì vợ chồng ông R ông Ha C và bà Cil M K’Jang đang quản lý sử dụng một phần thửa đất số 130. Bà Cil M K'Jang đã sử dụng diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L liên tục từ năm 1997 cho đến nay. Như vậy, việc UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 7.664,7m² (theo hoạ đồ đạc hiện trạng) thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L là sai về đối tượng sử dụng đất. Do đó, nguyên đơn yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông D3 là có căn cứ chấp nhận.
      2. Năm 2021, ông Dơng G Ha Ba lập hợp đồng tặng cho thửa đất 130 cho con là bà Rơ Ô K’Lôi và bà Rơ Ông K1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 ngày 27/7/2021. Như nhận định ở mục [2.3.1] thì một phần thửa 130 tờ bản đồ số 12 cấp sai đối tượng sử dụng đất, nên cần Hủy một phần Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất được Công chứng tại Văn phòng C3, Số công chứng số 5743, Quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2021 giữa hộ ông Dơng G Ha Ba và bà Rơ Ô K' Lôi; Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021.
      3. Hiện nay, bà Rơ Ô K’Lôi đang thế chấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021 tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh L1, Lâm Đồng để vay số tiền 300.000.000đ. Theo Văn bản số 205/NHNo.LP-KHKD ngày 12/7/2023 thì dư nợ tính đến ngày 12/7/2023 là 300.000.000đ, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/6/2025 và yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491TC2260044 ngày 20/6/2022 giữa A1 chi nhánh L1, Lâm Đồng với bà Rơ Ô K’Lôi cho đến khi bà K1 thực hiên xong nghĩa vụ trả nợ.

        Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi ngày 27/7/2021 đối với thửa đất 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L là không đúng đối tượng sử dụng đất, vi phạm về trình tự thủ tục cấp giấy nên phải hủy một phần giấy chứng nhận. Do đó, việc bà Rơ Ô K’Lôi lập Hợp đồng số 5491TC2260044 ngày 20/6/2022 với A1 chi nhánh L1, Lâm Đồng để thế chấp Giấy chứng Quyền sử dụng đất số DB 952760 đối với thửa 130, vay vốn Ngân hàng là không đúng quy định. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên huỷ một phần Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491TC2260044 ngày 20/6/2022, Số công chứng 3112, Quyển số 02/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/6/2022 giữa bà Rơ Ô K’Lôi với A1 chi nhánh L1, Lâm Đồng là có căn cứ, đúng quy định.

    4. Từ những phân tích trên, Tòa án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cil M K’Jang và ông Rơ Ông Ha C, là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn bà Rơ Ông K1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng G Ha Ba kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  3. Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, nên bị đơn bà Rơ Ô K’Lôi và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng Gur H Ba phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Rơ Ô K’Lôi và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dơng Gur Ha B1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 167, Điều 188, Điều 203 Luật Đất Đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng bà C2 Múp K’Jang, ông Rơ Ông Ha C về việc “Tranh chấp Quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất, huỷ Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bà Rơ Ô K’Lôi.
    1. Công nhận diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ 12 tại xã P, huyện L thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông Rơ Ông Ha C và bà Cil Múp K.

      Ông Rơ Ông Ha C và bà Cil M K’Jang được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai theo quy định.

      (Kèm theo hoạ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 02/02/2023).

    2. Hủy một phần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số S 342732 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 13/4/2001 cho hộ ông Dơng G Ha Ba đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 xã P, huyện L, Lâm Đồng.
    3. Hủy một phần Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất được Công chứng tại Văn phòng C3, Số công chứng số 5743, Quyển số 04/2021 TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Dơng G Ha Ba và bà Rơ Ô K’Lôi đối với diện tích đất 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
    4. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 952760 do Sở T cấp cho bà Rơ Ô K’Lôi đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
    5. Huỷ một phần Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 5491TC2260044 ngày 20/6/2022 giữa bà Rơ Ô K’Lôi với A1 - Chi nhánh L1, Lâm Đồng đối với diện tích 7.664,7m² thuộc một phần thửa 130, tờ bản đồ số 12 tại xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Rơ Ô K’Lôi thanh toán cho bà C2 Múp K và ông Rơ Ô Ha Chanh số tiền 39.606.000đồng (ba mươi chín triệu sáu trăm lẻ sáu ngàn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ và thẩm định giá.
  3. Về án phí phúc thẩm: Bà Rơ Ô K’Lôi và ông Dơng Gur Ha B1, mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí số 0003159, 0003160 ngày 26/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Như vậy, bà Rơ Ông K1 và ông Dơng G Ha Ba đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị Cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  6. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 593/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 593/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger