Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 592/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Công Danh;
  2. Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 591/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 600/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Bùi Thế C, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2005, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 115 ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Bùi Thị Thanh N (đã chết); Gia đình có 02 (hai) anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13 tháng 6 năm 2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

  1. Cao Mạnh H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Số A, tổ C, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Cao Mạnh T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1971; Gia đình có 02 (hai) anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con.

Tiền án:

Ngày 06 tháng 01 năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14 tháng 4 năm 2021;

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 12 tháng 9 năm 2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13 tháng 6 năm 2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

  1. Nguyễn Đình Duy Q, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: A, tổ B, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Nguyễn Đình N1, sinh năm: 1954; Họ tên mẹ: Ngô Thị T1, sinh năm: 1957; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất, bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Lâm Thị Ngọc N2, sinh năm 1989 có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án: Ngày 27 tháng 02 năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 12 tháng 6 năm 2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12 tháng 6 năm 2024, bị tạm giữ từ ngày 13 tháng 6 năm 2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ Q1, sinh năm: 2003.

Địa chỉ: F, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Cao Mạnh H và Bùi Thế C là bạn bè cùng xóm. Khoảng 23 giờ 30 ngày 11 tháng 6 năm 2024, C rủ H đi trộm cắp tài sản thì H đồng ý. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, H và C đi đến dãy trọ tại địa chỉ F, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, C và H đi vào trong hành lang dãy trọ, C phát hiện chiếc xe mô tô dựng ngoài hành lang dãy trọ định lấy trộm thì H cản lại và nói C ra ngoài đứng chờ, còn H đi đến phòng trọ số 4A do chị Nguyễn Thị Mỹ Q1, sinh năm 2003 thuê trọ, thấy chị Q1 đang ngủ, cửa mở, gần cửa ra vào có để 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB, H liền lấy trộm chiếc điện thoại của chị Q1 đi ra ngoài rồi cùng C đi về nhà của H tại địa chỉ số A ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi về nhà, H điện thoại cho bạn là Nguyễn Đình Duy Q đến nhà của H, H nói cho Q biết H mới trộm được 01 (một) chiếc điện thoại rồi đề nghị Q cầm cho H với giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) và đề nghị Q mang điện thoại đi bán giúp H. Q đồng ý, số tiền có được H chia cho C 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

Sáng ngày 12 tháng 6 năm 2024, chị Q1 tỉnh dậy phát hiện chiếc điện thoại của mình đã mất, chị Q1 kiểm tra hình ảnh camera của dãy trọ thì phát hiện 02 đối tượng đột nhập vào dãy trọ và đã trộm chiếc điện thoại của mình. Chị Q1 trình báo đến Công an phường L, đồng thời chia sẻ vị trí chiếc điện thoại của chị cho câu lạc bộ phòng chống tội phạm thành phố B để hỗ trợ. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, thông qua hệ thống định vị trên điện thoại, khi Q mang chiếc điện thoại trên đi bán tại cửa hàng mua bán điện thoại “Đ" thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị các thành viên câu lạc bộ phòng chống tội phạm thành phố B phát hiện, báo Công an phường T lập hồ sơ bắt người phạm tội quả tang. Qua lời khai nhận của Q, Công an phường T đã phối hợp với Công an phường L mời H và C đến làm việc, quá trình làm việc H, C thừa nhận hành vi phạm tội, Công an phường lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền

Vật chứng thu giữ:

  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB của chị Nguyễn Thị Mỹ Q1 bị H trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị Q1.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, dung lượng 64GB của Nguyễn Đình Duy Q, Q sử dụng liên lạc với H để thực hiện hành vi phạm tội, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tạm giữ.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Bùi Mạnh H1, H1 sử dụng làm phương tiện liên lạc với Q để bán tài sản trộm cắp được, sau đó bị hư hỏng H1 đã vứt bỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 193/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B đã kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax dung lượng 128GB trị giá 9.000.000đ (chín triệu đồng).

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị Mỹ Q1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 583/CT-VKSBH ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Thế C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Cao Mạnh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Nguyễn Đình Duy Q về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Bùi Thế C từ 10 (mười) tháng đến 14 (mười bốn) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Cao Mạnh H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Duy Q 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra, truy tố, bị hại đã cung cấp đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại phòng trọ số D, địa chỉ F, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Bùi Thế C và Cao Mạnh H có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB trị giá 9.000.000đ (chín triệu đồng) của chị Nguyễn Thị Mỹ Q1. Nguyễn Đình Duy Q mặc dù biết rõ chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB là do H trộm cắp mà có nhưng vẫn nhận cầm và giúp H mang đi bán. Sau đó C, H và Q bị phát hiện, bắt giữ khởi tố để xử lý theo quy định.

- Về tội danh: Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Bùi Thế C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Cao Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Nguyễn Đình Duy Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số: 583/CT-VKSBH ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo Bùi Thế C, Cao Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Nguyễn Đình Duy Q về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Các Bị cáo có nhân thân xấu, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Cao Mạnh H và Bùi Thế C: Không có;

Đối với bị cáo Nguyễn Đình Duy Q phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng đối với bị cáo Bùi Thế C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Minh T2 là chủ cửa hàng mua bán điện thoại “Đoàn tỷ” khi Q mang điện thoại Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB do H và C trộm được đến bán cho anh T2, anh T2 không biết điện thoại do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với anh T2 là phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về vật chứng:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB của chị Nguyễn Thị Mỹ Q1 bị H trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị Q1.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, dung lượng 64GB của Nguyễn Đình Duy Q, Q sử dụng liên lạc với H để thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Bùi Mạnh H1, H1 sử dụng làm phương tiện liên lạc với Q để bán tài sản trộm cắp được, sau đó bị hư hỏng H1 đã vứt bỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị Mỹ Q1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí:

Các bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của các bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Bùi Thế C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Thế C 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 6 năm 2024.

2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Cao Mạnh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Cao Mạnh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 6 năm 2024.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Duy Q phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Duy Q 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2024.

4. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, dung lượng 64GB của Nguyễn Đình Duy Q sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 11 năm 2024)

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Bùi Thế C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Cao Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Đình Duy Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS TP.Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 592/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 592/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại phòng trọ D, địa chỉ: F, tổ I , khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Bùi Thế C và Cao Mạnh H có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB trị giá 9.000.000đ (chín triệu đồng) của chị Nguyễn Thị Mỹ Q1. Nguyễn Đình Duy Q mặc dù biết rõ chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, dung lượng 128GB là do H trộm cắp mà có nhưng vẫn nhận cầm và giúp H mang đi bán. Sau đó C, H và Q bị phát hiện, bắt giữ khởi tố để xử lý theo quy định.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger