Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 591/2023/HSPT

Ngày 23 tháng 8 năm 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hòa Hiệp

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 399/2023/HSPT-TL ngày 31 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Chu S do bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1138/2023/QĐPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Chu S, sinh năm: 1974, tại T - Bắc Ninh. Nơi ĐKTT: Số A, tỉnh lộ 28, khu phố B, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Tổ H, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Giám đốc công ty cổ phần T1; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Chu L và bà Chữ Thị N, vợ Bùi Lê G, có 07 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 08/01/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới” theo Bản án số 05/2009/HSST. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K (có mặt)

Người bào chữa:

  • - Luật sư Hoàng Văn H, Từ Thị Bích N1 – Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư H7 (có mặt)
  • - Luật sư Hoàng Quốc V – Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt)
  • - Luật sư Phạm Anh V1 – Văn phòng L4 – Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

(Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 12/2017 vợ chồng bà Vũ Thị C, chồng là ông Bùi Văn V2, sinh năm 1954, nơi cư trú: ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang có 01 thửa đất số 107 tờ bản đồ số 34, diện tích 5.000m², toạ lạc tại ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cần bán nên hai bên thoả thuận miệng với nhau nếu bị cáo S mua thì vợ chồng bà C sẽ bán. Sau đó, S điện thoại cho vợ chồng bà C để hỏi mua nhưng thoả thuận nợ lại một số tiền nên vợ chồng bà C không đồng ý bán và thửa đất này cho ông Trần Văn C1.

Vào ngày 10/12/2017, S tự làm giả một hợp đồng mua bán đất với nội dung: Trong hợp đồng thể hiện bên bán là bà C, sinh năm 1965, CMND số [...] do CA Thành phố H cấp ngày 29/3/2005, bà C tên thật là Vũ Thị C, sinh năm 1954, CMND số [...] do CA Thành phố H cấp ngày 10/3/2015 bán lại cho Nguyễn Chu S thửa đất số 75 tờ bản đồ số 34, diện tích 5.000m², toạ lạc tại ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với giá 15 tỷ đồng, sau đó S đã tự ký tên trên hợp đồng bên mua là Nguyễn Chu S, tự giả mạo chữ ký của bà C ký tên bên bán là Nguyễn Thị C2. Đến tháng 1/2018, khi bị cáo S gặp các bị hại Y, H1 tại thành phố P thì bị can nói có người cô của bị cáo S tên C2 cần bán thửa đất diện tích 5.000m² tại ấp B, xã H với giá 15 tỷ đồng, bị cáo S đã rủ các bị hại cùng nhau hợp tác mua thửa đất trên để làm cảng biển, đồng thời dẫn các bị hại đi xem đất nên các bị hại tin tưởng, đồng ý góp vốn, đưa tiền cho bị cáo S.

Vào ngày 26/01/2018, tại chi nhánh công ty T1 ở thành phố P, bị cáo S đã kêu Nguyễn Thị Thùy D là nhân viên công ty S1 hợp đồng hợp tác kinh doanh bị cáo S ký kết với bị hại Y, H1 thoả thuận cùng nhau góp vốn mua thửa đất số 107, tờ bản đồ 34, diện tích 5.000m² tại ấp B, xã H, thành phố P với giá 15 tỷ đồng, trong đó, bị cáo S góp vốn 75%, các bị hại Y, H1 góp 25%, tương đương với số tiền là 3.750.000.000 đồng. Do tin tưởng lời nói của bị cáo S là sự thật, trong thời gian từ ngày 23/01/2018 đến ngày 07/02/2018, các bị hại Y, H1 đã trực tiếp giao tiền mặt và chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng S2 số [...] của bị cáo S nhiều lần, qua đó đã bị S chiếm đoạt 5 lần với tổng số tiền là 3.750.000.000 đồng, cụ thể:

Lần 1: Ngày 23/01/2018, bị hại Y, H1 trực tiếp giao tiền mặt cho bị cáo S tiền là 1.240.000.000 đồng;

Ngày 01/02/2018 S tiếp tục tự làm giả một hợp đồng mua bán đất do tự S viết với nội dung trong hợp đồng thể hiện: Bên bán là bà Nguyễn Thị C2, sinh năm 1954, CMND số [...] do Công an tỉnh B cấp ngày 29/4/2009 địa chỉ thường trú: 11/A, khu phố H, L, T, Bình Dương (bà C2 tên thật là Vũ Thị C, sinh năm 1954, CMND số [...] do CA Thành phố H cấp ngày 10/3/2015) bán lại cho Nguyễn Chu S diện tích 5.000m², toạ lạc tại ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với giá 15 tỷ đồng, sau đó S đã tự ký tên trên hợp đồng bên mua là Nguyễn Chu S, tự giả mạo chữ ký của bà C ký tên bên bán là Nguyễn Thị C2, người làm chứng là Từ Tuấn G1.

Lần 2: Ngày 5/02/2018 bị hại Y trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của bị cáo S số tiền 1.425.000.000 đồng,

Lần 3: Ngày 06/02/2018, bị hại Y trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bị cáo S số tiền 1.020.000.000 đồng,

Lần 4: Ngày 7/02/2018, bị hại H1 thông qua người con gái Tô Thị Thanh H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bị cáo S số tiền 50.000.000 đồng.

Lần 5: Ngày 07/02/2018, bị hại H1 thông qua người con gái Tô Thị Thanh H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của bị cáo S số tiền 15.000.000 đồng.

Sau khi nhận được tiền góp vốn của các bị hại Y, H1, thì bị cáo S không thực hiện theo hợp đồng đã ký kết mà chỉ đạo cho Lê Nhã T là thủ quỹ của công ty T1 thực hiện việc rút séc toàn bộ số tiền này để sử dụng vào việc đầu tư, mua bán đất tại dự án B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, các bị hại không biết sự việc này.

Khi bị hại Y, H1 yêu cầu công chứng Hợp đồng hợp tác kinh doanh đã ký kết trước đây thì vào ngày 24/9/2018 tại Văn phòng C4, bị cáo S đã tự công chứng hợp đồng, sau đó giao lại cho các bị hại để làm tin. Đến thời điểm này, mặc dù không mua được thửa đất nào tại ấp B, xã H nhưng khi các bị hại Y, H1 hỏi thì bị cáo S vẫn nói dối là đã mua được thửa đất của vợ chồng bà C2 đang chờ làm thủ tục sang tên, xin phép làm dự án cảng tạm. Để các bị hại tin tưởng, bị cáo S còn hứa hẹn ngày khởi công xây dựng làm cảng biển, mời các bị hại ra P chơi, tham quan, nhưng sau đó không thực hiện. Khi các bị hại đòi xem giấy tờ và hợp đồng mua bán đất với bà C2 thì bị cáo S đã kêu vợ là Bùi Lê G chụp hình hợp đồng mua bán với bà C2 được bị cáo S làm giả trước đấy, gửi hình ảnh qua mạng xã hội Zalo (vào ngày 21/12/2018) cho các bị hại xem, nhằm khẳng định việc mua thửa đất ở ấp B của bà C2 là sự thật. Khi xem, các bị hại thấy thửa đất trên hợp đồng đã ký kết ngày 26/01/2018 là thửa 107, còn hợp đồng mua bán với bà C2 là thửa số 75 thì lúc này bị cáo S nói do nhân viên công ty đánh máy sai, nên kêu bị hại chỉnh sửa hợp đồng từ thửa số 107 thành thửa số 75 cho giống với hợp đồng mua bán mà bị cáo S đã làm giả, sau đó đóng dấu công ty K L1 vào vị trí sửa chữa để các bị hại tin tưởng.

Ngày 24/12/2018 S tiếp tục viết, ký tên một giấy biên nhận thể hiện rõ việc nợ các bị hại Y, H1 số tiền 3.899.500.000 đồng, cam kết đến ngày 01/01/2019 trả trước số tiền 1 tỷ đồng, còn lại sẽ trả trong còng 60 ngày, đồng thời cam kết sẽ lấy sổ đỏ thửa đất đã mua chung với các bị hại Y, H1 ở ấp B để bán lại kiếm lời, hoặc cùng làm giấy uỷ quyền đứng tên chung với nhau, sau đó giao cho các bị hại để làm tin. Tiếp đến ngày 06/12/2019 S tiếp tục tự viết và ký tên giấy thoả thuận công nợ với các bị hại, nhưng S không thực hiện, nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ số tiền của các bị hại.

Từ năm 2019 đến năm 2020 S đã thế chấp nhiều tài sản của mình để vay Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh Đ1 sông C số tiền là 68.625.000.000 đồng nhưng không trả cho các bị hại Y, H1, mặc dù các bị hại đã nhiều lần đòi trả.

Đến ngày 28/3/2018 bị cáo S tiếp tục ký hợp đồng mua bán với các bị hại Y, H1 và bà N2 03 lô đất tại các vị trí 54, 87, 109 thuộc khu dân cư cao cấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với giá 3.799.000.000 đồng. Số tiền mua bán ba lô đất trên được hai bên thoả thuận, thống nhất chuyển từ tiền bán thửa đất tại ấp C, xã C cho H3 với giá 38 tỷ đồng mà bị cáo S đang giữ. Do các bị hại Y, H1 và bà N2 chưa thực hiện xong hợp đồng mua bán đã ký kết ngày 04/3/2018 nên vào ngày 17/4/2018 bà N3 đã chuyển thêm cho bị cáo S số tiền 360 triệu đồng.

Đến ngày 15/5/2018 do Ủy ban nhân dân tỉnh K ban hành công văn số 651/UBND-KTCN về việc chấn chỉnh công tác quản lý đất đau trên địa bàn thành phố P nên việc phân lô, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất đều tạm ngừng cho đến khi quy hoạch chung xây dựng đảo P được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh chính thức, vì vậy bị cáo S không làm được thủ tục tách thửa và công chứng sang tên ba lô đất trên cho các bị hại Y, H1 và bà N2. Ngày 16/8/2018 khi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp 48 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được tách ra từ thửa đất số 15, tờ bản đồ 34, diện tích 9.429m² tại ấp B, xã C do ông Lê Bá H4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 543183 ngày 10/4/2015 (bị cáo S là người đặt cọc mua lại thửa đất này tùe bà Nguyễn Thị N4) thì đến ngày 27/8/2018 bị cáo S đã thoả thuận với N4 để làm thủ tục chuyển nhượng 10 nền số 71, 72, 73, 75, 76, 79, 99, 100, 101, 104 cho 07 khách hàng đã mua của bị cáo S trước đây (còn lại các nền khác thì N4 vẫn đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đối với 03 nền số 54, 87, 109 mà bị cáo S đã ký bán cho các bị hại Y, H1 và bà N2 thì có hai nền số 54, 109 nằm trong racnh giới vùng lõi Vườn quốc gia P (theo kết luận số 06/KL-TT ngày 13/9/2017 của Thanh tra tỉnh Kiên Giang) không được tách thửa nên bị cáo S đã thoả thuận trả lại số tiền 3.899.500.000 đồng (theo giấy biên nhận ký ngày 24/12/2018) cho các bị hại Y, H1 và bà N2. Xét thấy, việc ký kết hợp đồng mua bán giữa bị cáo S với bà N2 và các bị hại Y, H1 đối với thửa đất số 205, tờ bản đồ 13, diện tích 1.000m2 tại ấp C, xã C và 03 lô đất tại các vị trí 54, 87, 109 thuộc khu dân cư cao cấp B tại B, xã C là tranh chấp hợp đồng dân sự.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại Nokia, màu đen, có số Imei 3521.1545.0578.794 được gắn sim số 0916 356 568;
  • - 01 (một) điện thoại Itel, màu đến, có số Imei 3581.9388.2688.360 được gắn sim số 0862.036.711;
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 8, màu vàng đồng, có số Imei 3567.5908.3765.116 được gắn sim số 0918.877.999;
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen, số Imei 3553.5608.0258.525 được gắn sim số 0961.223.367;
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 11, “led đen, số Imei 3565.4610.6524.509 được gắn sim số 0937.887.799;
  • - Một số giấy tờ, tài liệu mà bị cáo S đem theo trên người khi bị bắt, đã được kiểm tra, để lại nguyên vẹn, bỏ vào trong bì thư Phòng cảnh sát hình sự, dán niêm phong theo quy định vào ngày 05/3/2021.
  • Cơ quan điều tra đã trích xuất toàn bộ nội dung tin nhắn SMS; Zalo, giữa bị cáo S với các bị hại Y, H1 và bà N2 trong điện thoại Sâm (bị cáo S thừa nhận là do bị cáo trực tiếp sử dụng, nhắn tin trong thời gian từ đầu năm 2018 đến nay). Sau đó cơ quan điều tra bỏ vào trong bì thư phòng C5, dán niêm phong theo quy định vào ngày 08/3/2021.
  • * Phát hiện thu giữ trong quá trình khám xét tại chỗ ở của S, địa chỉ: Số A tỉnh lộ 28, khu phố B, phường P, H, Kiên Giang gồm: 08 thùng tài liệu giấy tờ
  • Cơ quan điều tra đã kiểm tra, trích xuất nhiều tài liệu, giấy tờ được bị cáo S ký xác nhận gồm 31 tài liệu (ký hiệu GB-HT) và 48 tài liệu (ký hiệu GB-HT-KT) sau đó niêm phong lại theo quy định (tài liệu không liên quan đến vụ án).
  • - 06 (sáu) xe ô tô đều đã qua sử dụng gồm:
    • + 01 (một) xe ô tô Fotuner, màu đen, biển kiểm soát 68A-068.39
    • + 05 (năm) xe ô tô mang biển kiểm soát Campuchia gồm: 01 xe ô tô Lexus LX470, màu xám đen, biển kiểm soát 2R-6999; 01 xe ô tô Toyota L.E màu trắng, biển kiểm soát 2A-8338; 01 xe ô tô Lexus RX300 màu xám, biển kiểm soát 2A-0734; 01 xe ô tô Camry LE màu trắng, biển kiểm soát 2E-6857; 01 xe ô tô Camry LE màu xám trắng, biển kiểm soát 2A-3564.
  • * Phát hiện thu giữ trong quá trình khám xét tại chỗ ở và nơi lảm việc của S, địa chỉ: tổ H, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang gồm:
  • - 04 thùng tài liệu, giấy tờ được bỏ vào trong thùng xốp, trong đó: Cơ quan điều tra đã kiểm tra, trích xuất nhiều tài liệu, giấy tờ được bị cáo S ký xác nhận gồm 629 tài liệu trong thùng số 1 (đưa tài liệu số 179 vào hồ sơ vụ án); 879 tài liệu trong thùng số 3 (đưa tài liệu từ số 743-748 vào hồ sơ vụ án); 148 tài liệu (đưa tài liệu từ số 20-22; 81-82; 85-86 vào hồ sơ vụ án); 856 tài liệu trong thùng số 04; 20 tài liệu trong thùng số 5 (đưa tài liệu từ số 06-08; 14-18) sau đó niêm phong lại theo quy định.
  • - 01 (một) thùng xốp có chứa 03 (ba) bộ xử lý thông tin (CPU) máy vi tính.
  • Cơ quan điều tra đã kiểm tra, trích xuất 03 (ba) hợp đồng mua bán đất đề ngày 10/12/2017 thể hiện bên bán là Nguyễn Thị C2, bên mua là Nguyễn Chu S (có chữ ký xác nhận của bị cáo S và vợ là Bùi Lê G chứng kiến) sau đó niêm phong lại theo quy định.
  • * Phát hiện, thu giữ trong quá trình khám xét tại nơi làm việc của S, địa chỉ: A đường K, khu phố A, phường T, H, Kiên Giang gồm:
  • - 11 (mười một) thùng tài liệu, giấy tờ. Cơ quan điều tra kiểm tra không trích xuất tài liệu, giấy tờ gì, sau đó niêm phong lại theo quy định.
  • * Phát hiện và thu giữ trong quá trình khám xét tại công ty TNHH một thành viên H8, H, địa chỉ: Số A đường N, khu phố A, phường P, H, Kiên Giang gồm:
  • Tài liệu, giấy tờ và CPU máy vi tính được bỏ vào thùng xốp (03 thùng).
  • Cơ quan điều tra đã kiểm tra, trích xuất nhiều tài kiệu, giấy tờ, được bị cáo S ký xác nhận gồm 52 tài liệu, ký hiệu HX-HT (đưa tài liệu từ số 01-04; 48-52 vào hồ sơ vụ án) và 208 tài liệu, ký hiệu HX-HT-KT, sau đó niêm phong lại theo quy định.
  • * Tiền Việt Nam 1.800.000.000 đồng (một tỷ tám trăm nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/02/2021 tại kho bạc Nhà nước tỉnh K.
  • * Tiền Việt Nam 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu tiền ngày 24/02/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

3. Việc xử lý vật chứng:

Trả lại 01 chiếc xe ô tô Fotuner màu đen, biển kiểm soát 68A-068.39 cho chủ sở hữu là ông Trương Ngọc H5, sinh năm 1972, nơi cư trú: Số A L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang theo Quyết định xử lý vật chứng số 11 ngày 13/5/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K.

Trả lại số tiền 1,8 tỷ đồng và 750 triệu đồng cho các bị hại Nguyễn Thị Y1, Lê Thị Minh H6 theo các Quyết định xử lý vật chứng số 09, số 10 ngày 13/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K.

Cơ quan điều tra đã trả cho bà Bùi Lê G toàn bộ tài sản và tài liệu đã thu giữ; riêng 05 chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát Campuchia Cơ quan điều tra đã chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý bằng một vụ việc khác.

4. Trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt. Các bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 86/CT – VKS – P2 ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Chu S về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Chu S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chu S 05 (Năm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 21/4/2023 bị cáo Nguyễn Chu S làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Qua quá trình thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cũng thành khẩn nhận tội, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay thì bị cáo đã thay đổi kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt, đồng thời các bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thật thà khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hại số tiền 3.950.000.000 đồng trong đó có 200.000.000 đồng tiền lãi. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa có lợi cho bị cáo khi lượng hình. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tuy bị cáo tại phiên tòa thay đổi kháng cáo từ kêu oan sang xin giảm nhẹ hình phạt nhưng các luật sư vẫn tranh luận về tội danh đối với bị cáo cho rằng bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tài sản nên không phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã khắc phục hậu quả hết mà còn khắc phục dư. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người bị hại chị H6 và chị Y1 đã có văn bản đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết mới. Bị cáo có ủng hộ các hoạt động từ thiện tại địa phương, bản thân bị cáo đang bị bệnh tim. Bị cáo S chấp hành án đến nay là 02 năm 06 tháng 23 ngày thì đã đủ răn đe giáo dục bị cáo mong Hội đồng xét xử tuyên mức án bằng thời hạn tạm giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư, và của bị cáo.

[1] Về tính hợp lệ đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chu S được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 12/2017, vợ chồng bà Vũ Thị Thu C3 và ông Bùi Văn V3 có thửa đất số 75, tờ bản đồ 34, diện tích 5.000m², toạ lạc tại ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cần bán với giá 15 tỷ đồng. Nguyễn Chu S thoả thuận với bà C3 để mua thửa đất trên. Trong thời gian này, S rủ bà Lê Thị Minh H6 và Nguyễn Thị Y1 cùng nhau hợp tác mua thửa đất trên của vợ chồng bà C3 để làm cảng biển, đồng thời S dẫn bà Y1, bà H6 đi xem đất. Đến ngày 26/01/2018, S ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với bà Y1, bà H6, thoả thuận cùng nhau góp vốn mua thửa đất trên với giá 15 tỷ đồng, trong đó S góp vốn 75%, bà Y1, H6 cùng góp 25% (tương đương với số tiền 3.750.000.000 đồng, trong đó bà Y1 góp 2.093.000.000 đồng, bà H6 góp 1.657.000.000 đồng). Trong thời gian từ ngày 23/01/2018 đến ngày 07/02/2018, bà Y1 và bà H6 nhiều lần chuyển cho S đủ số tiền góp vốn nêu trên. Do bị cáo S thỏa thuận đòi nợ lại một số tiền mua thửa đất nên bà C3 không đồng ý bán cho S; đến ngày 16/4/2018 vợ chồng bà C3 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trần Văn C1.

Mặc dù, S không mua được thửa đất nêu trên của vợ chồng bà C3 nhưng vẫn nói dối với các bị hại Y1, H6 là đã mua được, đang chờ làm thủ tục sang tên, xin phép làm dự án cảng tạm. Đồng thời, S kêu vợ là Bùi Lê G chụp hình hợp đồng mua bán đất ngày 10/12/2017 với bà C3 (hợp đồng này do S tự làm giả và ký tên bà C3) gửi qua Z (vào ngày 21/12/2018) cho các bị hại xem, nhằm làm cho các bị hại tin tưởng S đã mua được thửa đất. Sau nhiều lần liên hệ với S, các bị hại dần mất niềm tin và yêu cầu S trả tiền góp vốn thì đến ngày 24/12/2018, S đã viết giấy nhận nợ thể hiện rõ việc nợ các bị hại Y1, H6 số tiền 3.899.500.000 đồng, cam kết đến ngày 01/01/2019 trả trước số tiền 1 tỷ đồng, còn lại sẽ trả trong vòng 60 ngày, tiếp đến ngày 06/12/2019 S tiếp tục tự viết và ký tên giấy thoả thuận công nợ với các bị hại, nhưng S không thực hiện, nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ số tiền của các bị hại.

Như vậy, thông qua Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 26/01/2018 được ký kết giữa Công ty cổ phần T1 (do bị cáo S là người đại diện theo pháp luật) với các bị hại Y1, H6, bị cáo S đã nhận được số tiền góp vốn 3.750.000.000 đồng từ các bị hại Y1, H6 để cùng nhau mua đất của bà C3. Sau đó, bị cáo không mua được thửa đất của bà C3, nhưng không cho bị hại biết mà dùng thủ đoạn gian dối (tự làm giả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà C3 gửi cho các bị hại để làm tin), và nói dối với các bị hại rằng bị cáo đã mua được thửa đất của bà C3, đang chờ làm thủ tục sang tên, xin phép làm dự án cảng tạm, nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ số tiền 3.750.000.000 đồng của các bị hại.

Bị cáo lợi dụng sự tin tưởng của các bị hại trong quá trình hợp tác làm ăn, sau đó dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại. Khi bị cáo biết được bản thân không mua được thửa đất của vợ chồng bà C3 và biết được bà C3 đã bán thửa đất cho người khác, nhưng bị cáo không thông báo cho các bị hại biết mà nhiều lần nói dối các bị hại, tự tạo ra các hợp đồng mua bán giả mạo với bà C3 để lừa dối và nhằm tạo niềm tin cho các bị hại, từ đó chiếm đoạt số tiền mà các bị hại đã góp vốn làm ăn. Khi các bị hại dần mất niềm tin vào bị cáo và yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã góp vốn thì bị cáo viết giấy nhận nợ và cam kết thời gian trả nợ, tuy nhiên đến thời hạn bị cáo vẫn không trả cho các bị hại như cam kết.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Chu S tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến kinh tế và gây tâm lý bức xúc cho người bị hại, đồng thời còn gây mất trật tự trị an ở địa phương.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Với những chứng cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 5 năm tù là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật. Trong suốt thời gian điều tra bị cáo luôn thành khẩn khai báo nhưng vẫn cho mình bị oan. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo thay đổi kháng cáo không kêu oan nữa mà xin giảm nhẹ hình phạt. Điều đó chứng minh rằng bị cáo thực sự ăn năn hối cải, còn thể hiện thông qua việc bị cáo tác động gia đình bồi thường cho các bị hại số tiền nhiều hơn số tiền bị cáo đã chiếm đoạt, thể hiện thiện chí trả nợ cho các bị hại (bị cáo chiếm đoạt 3.750.000.000 đồng nhưng bị cáo bồi thường 3.950.000.000 đồng). Ngoài ra, gia đình bị cáo có công với cách mạng (cha bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến), bản thân bị cáo có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương và được chính quyền địa phương tặng thưởng bằng khen, giấy khen; tại phiên tòa phúc thẩm các bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật, bị cáo có cơ hội cải tạo thành người có ích cho xã hội.

[5] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Chu S không phải án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chu S.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HSST ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về hình phạt.

Tuyên xử:

Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chu S 03 (Ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2021.

2. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Chu S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại thành phố Hồ Chí Minh (1)
  • - TAND tỉnh Kiên Giang(1);
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang(1);
  • - CA tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Trại tạm giam (tống đạt cho bị cáo) (2)
  • - Lưu (5).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Duyên

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 591/2023/HSPT ngày 23/08/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 591/2023/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger