TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 591/2024/HS-ST
Ngày: 26/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP . HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tiến Dũng;
- Bà Phan Thị Mai Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Phạm Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 545/2024/TLST/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 626/2024/QĐXXST-HS ngày 6 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
Bị cáo: Nguyễn Văn N; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1995; Tại: Trà Vinh; Thường trú: ấp F, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: 197/17 đường Q cũ, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị Hồng Đ; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Bị cáo: Nguyễn Văn T1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985; Tại: Kiên Giang; Thường trú: tổ A, ấp H, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: nhà không số (60/29) tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Ngọc H1; có vợ hai con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: ngày 16/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 17/2011/HSST.
Ngày 22/3/2018, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024
Bị cáo: Phạm Ngọc T2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1976; Tại: Thái Bình; Thường trú: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: không xác định; Nghề nghiệp: Lái xe, Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Con ông: Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị T3; có vợ một con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Bị cáo: Nguyễn Công D; Giới tính: Nam; sinh năm: 1981; Tại: Long An; Thường trú: 309 ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nơi cư trú: B, khu phố C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 7/12; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn X và bà Lê Thị N1, không có vợ 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Bị cáo: Nguyễn Phương N2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1995; Tại: Long An; Thường trú: Số A ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nơi cư trú: không xác định; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Ú, và bà Bùi Thị Ú1; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Bị cáo: Vũ Anh M; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990; Tại: Thanh Hóa; Thường trú: thôn D, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: 3 đường T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Xuân B và bà Hà Thị Đ1; có vợ hai con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024.
Người có lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lương Văn N3; sinh năm: 1969; Địa chỉ: số B đường B, khu phố A, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Ngô Văn G; sinh năm: 1986; Địa chỉ: 7 Quốc lộ A, khu phố D, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Trần Vũ Kim T4; sinh năm: 1988; Địa chỉ: 9 đường B, khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Anh Mai Thanh T5; sinh năm 1974; Địa chỉ: số D, Quốc lộ A, khu phố C, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Anh Huỳnh Hữu H2; sinh năm 1987; Địa chỉ: 9 Quốc lộ A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: anh Phạm Văn C - sinh năm 1980
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Sáng ngày 14/01/2024, Nguyễn Văn N liên hệ với 2 bên chủ gà là Phạm Ngọc T2 và Nghĩa đen (chưa rõ lai lịch) để tổ chức cá cược đá gà thắng thua bằng tiền mặt. Sau đó T2 mang theo 01 con gà tre màu đỏ, đen nặng 1.58 kg và rủ thêm 03 người bạn là Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2 và Vũ Anh M cùng đi cá cược đá gà, điểm hẹn là nhà trọ của N tại địa chỉ số I Đường B, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn Nghĩa đen đến gặp Nguyễn Văn T1 rủ T1 mang con gà tre màu đỏ đen nặng 1.5 kg đi cá cược đá gà với nhóm của T2. T1 nói không có tiền nên N4 hứa sẽ cho T1 mượn tiền chung chi nếu bị thua.
Thể thức đá gà như sau: Tiền thắng, thua sẽ được chung chi vào lúc có kết quả khi có một trong hai con gà bị đá chết tại chỗ hoặc bị thương không đá được hoặc bỏ chạy mất. Các bên thỏa thuận sau khi có kết quả thắng thua thì mới chung chi tiền cược và bên thắng mới cho trọng tài tiền công. Nếu kết quả hòa là khi hai con gà không chịu đá nhau nữa, thì trọng tài sẽ không được nhận tiền.
Hình thức đặt cược là:
- Kèo "Xổ" là hình thức đặt cược giữa hai chủ gà cáp kèo thông qua trọng tài là N, tỷ lệ chấp (tiền cược) giữa hai con gà sẽ tính theo cân nặng và thỏa thuận giữa hai chủ gà. Sau khi có kết quả, trọng tài sẽ được tiền phí 5% của số tiền thắng cược.
- Kèo “Hàng Sáo" là hình thức đặt cược sau khi kèo "Xổ" đã chốt xong ai muốn cược thì tùy tình huống lúc gà đang đá sẽ tự đưa ra tỷ lệ ăn thua và số tiền cược với người khác. Kèo "Hàng sáo" Nguyên không được tiền phí.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T2 và nhóm của T1 mang 02 con gà và 02 bộ cựa kim loại đến bãi đất trống kế bên nhà trọ của N để cá độ đá gà. N đứng ra làm trọng tài, N dùng cân của mình cân gà cho hai nhóm, hai bên đặt kèo mỗi bên 4.000.000 đồng. Sau khi cân, gà của T2 nặng 1.58 kg to cao hơn gà của T1 và N4, nặng 1.50 kg nên hai bên thỏa thuận gà của T2 chấp gắn 01 cựa sắt trên và 01 cựa sắt dưới cùng tỷ lệ ăn 0.8 tiền cược. Do tỷ lệ cược là 0.8 nên số tiền góp của hai nhóm như sau: Bên nhóm của T2 gồm Phạm Ngọc T2 góp 1.500.000 đồng, Nguyễn Phương N2 góp 1.000.000 đồng, Vũ Anh M góp 500.000 đồng, Nguyễn Công D góp 1.000.000 đồng; bên nhóm của T1 gồm Nguyễn Văn T1 góp 1.600.000 đồng, Nghĩa đen góp 1.600.000 đồng. Trọng tài Nguyên được hưởng 05% tổng số tiền cá cược là 200.000 đồng từ bên thắng cược.
Khoảng 09 giờ 45 phút sau khi thỏa thuận “chốt kèo Xổ" xong thì N kẻ 01 đường ngang dưới đất và hô “thả gà” thì T2 và T1 thả gà của mình ra cho đá. Lúc này, ngoài hai nhóm người của T1 và T2 thì còn có thêm Lương Văn N3, Ngô Văn G, Mai Thanh T5, Phạm Văn C, Lê Sóc E, Trần Vũ Kim T4, Huỳnh Hữu H2 và một số người không rõ lai lịch đứng xem đá gà. Trong lúc đứng xem đá gà:
- Lương Văn N3 nói với T2 cho theo con gà của T2 với số tiền góp cá cược là 1.000.000 đồng. Do đã chốt “kèo Xổ" với chủ gà bên kia đã xong nên N3 nhờ T2 rao kèo mới gọi là “kèo hàng Sáo". T2 rao kèo cược gà của T2 số tiền 1.000.000 đồng với tỷ lệ ăn 0.7 thì có 02 người xem bên ngoài tham gia cược bắt gà của T1 và Nghĩa là Ngô Văn G và Trần Vũ Kim T4 với số tiền mỗi người góp tham gia cược là 350.000 đồng. Chung chi thắng thua trực tiếp giữa N3, G và T4. Hai bên cũng chưa đưa tiền.
- Nghĩa đen nói với T1 đã bắt kèo hàng sáo với một người xem bên ngoài (chưa rõ lai lịch) 1.000.000 đồng (thua 0.7 lần là 700.000 đồng). N4 nói với T1 tổng cộng cá cược 02 kèo “sổ” và “ hàng sáo” số tiền 4.000.000 đồng (thua 0.8 lần là 3.200.000 đồng) và nếu thua thì tổng là 3.900.000 đồng, chia 50% mỗi người góp 1.950.000 đồng thì T1 đồng ý.
- Mai Thanh T5 và Huỳnh Hữu H2 có bắt độ cá cược đá “kèo hàng S" với 01 nam thanh niên lạ mặt đã bỏ chạy thoát, T5 cá cược số tiền 500.000 đồng, còn H2 cá cược số tiền 200.000 đồng.
Khi 02 con gà đang đá được khoảng 05 phút, đến 09 giờ 50 phút thì Công an phường H phối hợp cùng Đ3 Công an thành phố T đến kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng và đưa những người liên quan về trụ sở để làm việc. T1, Nghĩa Đ2 và một số người khác bỏ chạy, có khoảng 03 - 04 người bỏ chạy thoát trong đó có 01 cánh gà cá cược là Nguyễn Văn T1 và Nghĩa đen.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi tham gia đánh bạc của mình như nội dung trên.
* Vật chứng thu giữ:
- 02 (Hai) con gà Tre lông màu Đen - Đỏ (01 con nặng 1.58 kg, 01 con nặng 1.50 kg) cùng 04 cựa kim loại trắng sáng, dạng cong nhọn đang gắn tại chân 02 con gà đã tiêu hủy.
- 01 (Một) cân cơ loại 05 kg, hiệu Nhơn Hòa, màu Xanh, tình trạng đã cũ, còn hoạt động;
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu bạc (Thu giữ của N);
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh (Thu giữ của T1);
- 01 điện thoại di động hiệu S1 note 20 Ultra 5G, màu đồng (Thu giữ của T2);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen (Thu giữ của D);
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (Thu giữ của N2);
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc (Thu giữ của M);
Thu giữ của các bị cáo tổng cộng: 9.850.000 đồng bao gồm:
- Nguyễn Văn N nộp số tiền 400.000 đồng;
- Nguyễn Văn T1 nộp số tiền 1.950.000 đồng;
- Phạm Ngọc T2 nộp số tiền 3.900.000 đồng;
- Nguyễn Công D nộp số tiền 1.000.000 đồng;
- Nguyễn Phương N2 nộp số tiền 100.000 đồng;
- Vũ Anh M nộp số tiền 2.500.000 đồng.
[2] Bản Cáo trạng số 503/CT-VKSTPTĐ ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn N, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mà áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1.
Xét các bị cáo Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M nhất thời phạm tội nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Mức hình phạt đề nghị:
- Bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù
- Bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Bị cáo Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Đồng thời đề nghị áp dụng hình phạt phụ: phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000 đồng.
Vật chứng xử lý theo quy định
Các bị cáo không tranh luận và bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo đã biết lỗi và hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 14/01/2024, tại bãi đất trống kế bên số I Đường B, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn T1 và Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M có hành vì đánh bạc bằng hình thức đá gà ăn thua bằng tiền. Trong đó tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Văn T1 đặt cược kèo xổ là 8.000.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nghĩa Đ2 chưa rõ lai lịch còn cáp 01 kèo riêng bên ngoài 2.000.000 đồng.
Trong vụ án này các bị cáo chưa đưa tiền đặt cược và thực tế nếu tính trên số tiền các bị cáo dùng đặt được trên tỷ lệ thắng thua thì thấp hơn số tiền các bị cáo cắp kèo và đúng số tiền như cáo trạng đã truy tố các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn N có hành vi làm trung gian môi giới, liên hệ kết nối với các bên để tổ chức đá gà ăn tiền, chuẩn bị công cụ, phương tiện (cân, băng keo) làm trọng tài cho T1, T2, D, N2, M đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền. Do quy mô sòng bạc và số người phạm tội chưa đủ định lượng của tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự nhưng hành vi của N đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc", nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung với các bị cáo còn lại về hành vi đánh bạc.
[3] Khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét cho các bị cáo Nguyễn Văn N, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo Phạm Ngọc T2 có xác nhận của chính quyền địa phương là lao động chính trong gia đình xét các tình tiết nêu trên đủ điều kiện xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 có nhân thân từng bị kết án nên không được áp dụng tình tiết lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét bị cáo đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam đã thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và thời gian tạm giữ, tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung nên áp dụng mức hình phạt tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam đối với các bị cáo.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là lao động nghèo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Vì vậy không chấp nhận đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa,
[5] Đối với Nghĩa đen, Cơ quan điều tra tiến hành rà soát, xác minh lai lịch của N4 nhưng chưa có kết quả. Do thời hạn điều tra đã hết, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với vụ án đánh bạc do N4 thực hiện và một số đối tượng bỏ chạy khi cơ quan Công an kiểm tra, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với Mai Thanh T5, Huỳnh Hữu H2, Lương Văn N3, Ngô Văn G, Trần Vũ Kim T4, có hành vi cá cược trái phép bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền. Xác minh lý lịch các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để xử lý hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã đưa hồ sơ các đối tượng về phường xử lý. Đối với Phạm Văn C, Lê Sóc E đứng xem đá gà, không tham gia cá cược, đánh bạc nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với C và Em. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
* Vật chứng và đồ vật thu giữ:
- 02 (Hai) con gà Tre lông màu Đen - Đỏ (01 con nặng 1.58 kg, 01 con nặng 1.50 kg) đã tiêu hủy ngày 18/11/2021.
- 01 (Một) cân cơ loại 05 kg, hiệu Nhơn Hòa, màu Xanh, tình trạng đã cũ, còn hoạt động và cùng 04 cựa kim loại trắng sáng, dạng cong nhọn là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu bạc, thu giữ của N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung note 20 Ultra 5G, màu đồng, thu giữ của T2 dùng để liên lạc cá độ đá gà là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh, thu giữ của T1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Công D; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh thu giữ của bị cáo Nguyễn Phương N2 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc thu giữ của bị cáo M đây là tài sản không liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Văn N nộp số tiền 400.000 đồng, số tiền không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N;
- Bị cáo Nguyễn Văn T1 nộp số tiền 1.950.000 đồng là tiền đánh bạc hàng sáo với bên ngoài nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Phạm Ngọc T2 nộp số tiền 3.900.000 đồng, trong đó bị cáo T2 dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại 1.900.000 đồng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T2.
- Bị cáo Nguyễn Công D nộp số tiền 1.000.000 đồng, đây là tiền dùng đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Nguyễn Phương N2 nộp số tiền 100.000 đồng, tiền bị cáo dùng đánh bạc 1.000.000 đồng, do đó buộc bị cáo phải nộp số tiền 900.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước;
- Vũ Anh M nộp số tiền 2.500.000 đồng trong đó có 500.000 đồng tiền bị cáo dùng để đánh bạc, số tiền còn lại 2.000.000 đồng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Các vật chứng khác thu giữ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Cơ quan Điều tra đã xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 321; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.
Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Ngọc T2 10 (mười) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
- Bị cáo Nguyễn Công D 10 (mười) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
- Bị cáo Nguyễn Phương N2 10 (mười) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
- Bị cáo Vũ Anh M 10 (mười) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
- Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Phạm Ngọc T2, Nguyễn Công D, Nguyễn Phương N2, Vũ Anh M nếu các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cân cơ loại 05 kg, hiệu Nhơn Hòa, màu xanh, tình trạng đã cũ, còn hoạt động và 04 cựa kim loại trắng sáng, dạng cong nhọn (dùng gắn tại chân gà).
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.950.000 đồng (thu giữ của bị cáo T1); 2.000.000 đồng (thu giữ của bị cáo T2); 1.000.000 đồng (thu giữ của bị cáo D); 100.000 đồng (thu giữ của bị cáo N2); 500.000 đồng (thu giữ của bị cáo M); 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu bạc và 01 điện thoại di động hiệu Samsung note 20 Ultra 5G, màu đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Phương N2 nộp 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), bị cáo Phạm Ngọc T2 số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng), bị cáo Vũ Anh M số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Trả lại cho các bị cáo Nguyễn Công D: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen; bị cáo Nguyễn Phương N2 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh; bị cáo Vũ Anh M 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu bạc và bị cáo Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 12 màu xanh
(Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức ngày 26/11/2024)
(Vật chứng tại phiếu nhập kho số NK24/034C ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 591/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 591/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Ng va dong bon - Danh bac
