Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 591/2024/HS-PT

Ngày 19 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang;
Ông Đinh Quốc Trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 19/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 369/2024/TLPT-HS ngày 23/4/2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 286/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn S, sinh năm 1994; Nơi thường trú và chỗ ở: thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn Q và con bà Nguyễn Thị T; Vợ Hoàng Thị N, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, sinh năm 2016 và 2018; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo thứ năm; Tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/6/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

Bị cáo đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Vụ án còn có hai bị hại, một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0h45' ngày 13/12/2022, bị hại Đỗ Hoàng P, sinh năm 2000; trú tại phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô BKS 29A -077.10 lưu thông trên cầu Đ, chiều Đông A hướng đi L, cùng đi trên xe với anh P có bị hại Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1986; trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Đến đoạn cột đèn T6LC/15 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Hà Nội thì xe ô tô BKS 29A -077.10 bị hỏng lốp bánh sau bên trái hết hơi. Anh P và chị L đỗ xuống để sửa xe. Đến khoảng 1h00 cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn S (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô BKS 22Y1 -071.50 đi cùng chiều Đông A hướng đi L đã va chạm với xe ô tô của anh P. Hậu quả: anh Đỗ Hoàng P, chị Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Văn S bị thương; xe ôtô BKS 29A- 077.10 và xe môtô BKS 22Y1-071.50 bị hỏng.

Tại kết luận định giá tài sản số 76 ngày 17/4/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: “Xe ôtô BKS 29A- 077.10 bị thiệt hại 7.250.000 đồng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: “Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường đôi, chiều đường Đ hướng đường L gồm 05 làn đường xe chạy; làn đường trong cùng bên phải ngăn cách với 04 làn đường còn lại bằng dải phân cách cố định; 04 làn đường còn lại rộng 17,3m được ngăn cách bằng vạch sơn đứt nét màu trắng; mặt đường trải nhựa, phẳng. Lấy mép dải phân cách cứng bên phải chiều Đông A hướng đường L làm chuẩn:

Xe ôtô BKS 29A- 077.10 (ký hiệu 1) đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đường L; tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường làm chuẩn 1.32m; tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường làm chuẩn 1,34m và cách cột đèn T6LC/15 là 19,9m.

Trên mặt đường có vùng dụng cụ sửa xe và kích xe (ký hiệu 2) KT (0,95x0,5)m, ngang với trục bánh sau bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 và có điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 3,2m.

Xe môtô BKS 22Y1- 871.50 (ký hiệu 5) đổ nằm nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng Đ; tâm trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 3,3m, tâm trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 4,1m. Xe môtô đổ để lại trên mặt đường vết cày đứt quãng KT (2,9x0,01)m (ký hiệu 3), đầu vết cách mép đường làm chuẩn 4,2m và cách điểm gần nhất của dấu vết ký hiệu 2 là 3,2m, cuối vết trùng với đầu bàn chân chống phụ xe môtô BKS 22Y1- 871.50.

Mặt đường để lại: Vùng vết màu đen (dạng dầu) (ký hiệu 4) KT (6,2x0,65)m, đầu vết cách đầu dấu vết ký hiệu 3 là 1,6m, cuối vết cách mép đường làm chuẩn 3,3m và cách tâm trục bánh trước xe môtô BKS 22Y1- 871.50 là 1m; vùng chất màu đỏ (dạng máu) (ký hiệu 6) KT (0,2x0,2)m, điểm gần nhất ngang với tâm trục bánh sau xe môtô BKS 22Y1- 871.50 và cách mép đường làm chuẩn 5,5m; vùng nhựa vỡ, dép, mũ bảo hiểm rải rác KT (5,5x2)m (ký hiệu 7), điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 2,5m và cách điểm gần nhất dấu vết 6 là 1,1m; lốp xe ôtô có đường kính 0,45m (dấu vết 8), tâm của lốp cách mép đường làm chuẩn 4m và cách tâm trục bánh sau bên phải xe ôtô BKS 29A- 077.10 là 4,1m.”

Vật chứng tạm giữ:

  • Xe ôtô BKS 29A- 077.10 nhãn hiệu Toyota Innova, số máy 1TR6707460, số khung RL4XW43G599256707.
  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn S.
  • Xe môtô BKS 22Y1- 071.50 nhãn hiệu Yamaha Sirius, số máy 1FC1-012981, số khung FC10DY012971.

Tại kết luận giám định số 8994 ngày 06/01/2023 của V - Bộ C, kết luận:

“1.a) - Dấu vết trượt xước, rách thủng cao su, mất chất màu đen ở má ngoài lốp và dấu vết trượt xước ở mặt ngoài là zăng lốp bánh sau bên trái xe ôtô biển số 29A- 077.10 có chiều từ mặt ngoài mà lốp vào tâm trục bánh xe, phù hợp với dấu vết trượt xước, gãy vỡ kim loại, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía dưới giảm xóc trước và đầu trục trước bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô BKS 22Y1- 071.50 tại các vị trí này có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài bên trái chắn đà sau xe ô tô BKS 29A- 077.10 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất chất màu đen ở mặt ngoài ốp nhựa vai càng giảm xóc trước bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô BKS 22Y1- 071.50 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước, biến dạng, rách thủng kim loại, mất chất màu ghi ở mặt ngoài phía sau hông bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu ghi ở mặt ngoài phía trước tay phanh bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô BKS 22Y1- 071.50 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài phía sau hông bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước ở mặt ngoài núm kim loại đầu tay phanh bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 22Y1- 071.50 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía sau hông bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất chất màu đen ở mặt ngoài hộp dầu phanh tay bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô BKS 22Y1- 071,50 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía sau hông bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 có chiều từ sau về trước, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất chất màu đen ở mặt ngoài đầu tay lái bên phải xe môtô BKS 22Y1- 071.50. Dấu vết va chạm ở xe môtô BKS 22Y1- 071.50 tại vị trí này có chiều từ ngoài vào tâm trục tay lái.

b) Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu trục trước, khung kim loại tay lái, chân gương chiếu hậu, đầu cần gạt cần số trước, đầu bàn để chân trước, chân chống phụ, ốp nhựa sườn xe, tay nâng phía sau, giá kim loại gắn bàn để chân sau bên trái xe mô tô BKS 22Y1- 071.50 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe mô tô BKS 22Y1- 071.50 đổ nằm nghiêng bên trái và trượt trên mặt đường.

c) Các dấu vết còn lại ở xe ôtô BKS 29A- 077.10 và xe môtô BKS 22Y1- 071.50 được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ hiện tại không thể hiện rõ, không đủ yếu tố giám định so sánh.

2. Không xác định được tốc độ của xe mô tô BKS 22Y1- 071.50 tại thời điểm va chạm tai nạn.

3. Căn cứ vào hồ sơ gửi giám định: Vị trí va chạm giữa xe ôtô BKS 29A- 077.10 và xe môtô BKS 22Y1- 071.50 nằm ở làn đường thứ nhất (tính từ mép đường chuẩn) của phần đường chiều Đông A đi đường L.

4. Dấu vết cày trượt đứt quãng ký hiệu số 3 (ký hiệu trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường) có chiều từ Đ đi L. Vị trí cuối cùng của dấu vết số 3 này phù hợp với dấu vết trượt xuớc kim loại ở đầu chân chống phụ bên trái xe môtô BKS 22Y1- 071.50.

- Không xác định được chiều hướng, cơ chế hình thành dấu vết ký hiệu số 4 trong sơ đồ hiện trường.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe ôtô BKS 29A- 077.10 và xe môtô BKS 22Y1- 071.50 bị hỏng nên không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật phương tiện. Bánh sau bên trái xe ôtô BKS 29A- 077.10 có vết rách thủng cao su.”

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1006 ngày 19/7/2023 của Trung tâm P2 đối với thương tích của anh Đỗ Hoàng P, kết luận:

“- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đỗ Hoàng P tại thời điểm giảm định là 99% (chín mươi chín phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Đỗ Hoàng P do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.”

Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm P2 giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với chị Nguyễn Thị Kim L; chị L từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, xin tự chịu hậu quả thương tích. Trích sao hồ sơ bệnh án số 0773 ngày 01/02/2023, Bệnh viện H xác định thương tích của chị Nguyễn Thị Kim L:

“- Khám: Tỉnh chậm, G 14 điểm; đồng tử hai bên đều, phản xạ ánh sáng (+); vết thương vùng trán kích thước 5cm nham nhở bẩn, lộ xương; sây sát gò má trái; cổ mềm, ngực vững, bụng mềm; sây sát gối trái, sây sát 1/3 giữa cẳng chân trái.

- Các xét nghiệm và thăm dò cận lâm sàng: Siêu âm, xét nghiệm máu cơ bản; X.quang ngực, khớp gối, cẳng chân trái: Hiện chưa thấy hình ảnh bất thường; CT Scanner sọ não: Tụ máu dưới màng cứng vùng đỉnh phải; các ổ đụng dập chảy máu thùy thái dương phải, kèm viền phù não xung quanh; chảy máu liềm đại não, lều tiểu não hai bên; vỡ xương trán lan vào trần ổ mắt cùng bên; vỡ trần ổ mắt trái; vỡ thành xoang sàng 2 bên gây tụ máu trong xoang; tụ dịch xoang hàm, xoang sàng và xoang bướm hai bên; CT Scanner hàm mặt: Vỡ trần ổ mắt trái; vỡ thành xoang sàng 2 bên gây tụ máu trong xoang; tụ dịch xoang hàm, xoang sàng và xoang bướm 2 bên.

- Chẩn đoán: Đa chấn thương; chấn thương sọ não: Dập não, tụ máu dưới màng cứng; theo dõi chấn thương hàm mặt: Tụ dịch xoang sàng hai bên.”

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1293 ngày 13/9/2023 của Trung tâm P2 đối với thương tích của Nguyễn Văn S, kết luận:

“- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị can Nguyễn Văn S tại thời điểm giám định là 65% (sáu mươi năm phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, tày có cạnh gây ra.”

Tại công văn số 865 ngày 21/4/2023 của Bệnh viện Đ cung cấp: “Định lượng Ethanol trong máu bệnh nhân Nguyễn Văn S 36,4mmol/L (căn cứ Quyết định số 933 ngày 23/3/2010 của Bộ Y, hệ số chuyển đổi 36,4 mmol/l x 4,608= 167,73mg/100ml máu).

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, kết quả khám nghiệm các dấu vết phương tiện liên quan, kết luận giám định thương tích, kết luận giám định dấu vết; lời khai của bị cáo và các tài liệu điều tra thu thập được có đủ cơ sở kết luận vụ tai nạn giao thông lỗi do Nguyễn Văn S gây ra. Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn 167,73/100ml máu, điều khiển xe môtô không chú ý quan sát, vi phạm khoản 8 Điều 8 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Anh Đỗ Hoàng P và chị Nguyễn Thị Kim L đỗ xe trên cầu do xe bị thủng lốp bánh sau bên trái, đã có bật đèn và đặt thùng nước cảnh báo, nên không có lỗi trong vụ tai nạn.

Xử lý vật chứng:

  • Xe ôtô BKS 29A- 077.10 Ngày 25/11/2022, ông Đỗ Văn P1 (bố anh Đỗ Hoàng P) mua với giá 50.000.000 đồng, ông P1 chưa làm thủ tục sang tên trong giấy đăng ký xe. Ngày 27/02/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ôtô cho ông Đỗ Văn P1. Chủ xe ôtô có tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, ông P1 không đề nghị cơ quan pháp luật giải quyết.
  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn S chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • Xe môtô BKS 22Y1- 071.50 là tài sản của Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn Q1 (anh trai S đứng tên trong giấy đăng ký xe). Chủ xe môtô BKS 22Y1- 071.50 không tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự. Chuyển Chi Cục thi hành án dân sự giải quyết theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 28/11/2023, bị cáo Nguyễn Văn S đã bồi thường thương tích cho anh P số tiền 200.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp cho bị hại theo ủy quyền bà Đường Thị M (mẹ đẻ anh P) đã nhận đủ. Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S tiếp tục bồi thường thương tích cho anh Đỗ Hoàng P số tiền 351.620.000 đồng (bao gồm tiền viện phí, thuốc men). Ngoài ra đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn S còn phải bồi thường cho anh Đỗ Hoàng P tiền mất thu nhập của anh P, mất thu nhập của người chăm sóc, tiền trợ cấp nuôi hai con anh P đến khi các cháu 18 tuổi và các chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật.

  • Đối với chiếc xe ô tô BKS 29A- 077.10 ông Đỗ Văn P1 (bố đẻ anh P) xin tự chịu trách nhiệm đối với thiệt hại.
  • Chị Nguyễn Thị Kim L xin tự chịu thiệt hại đối với thương tích trong vụ tai nạn.
  • Về dân sự: Đã giải quyết xong.

Tại bản cáo trạng số 282/CT-VKSĐA ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 286/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội quyết định:

  • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/12/2023 bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ già, con nhỏ; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; vợ chồng bị cáo đã ly hôn. Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi của bị cáo; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S, sửa án Bản án hình sự sơ thẩm số 286/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội:
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 36 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bày tỏ sự ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ ngày 13/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn S có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô BKS 22Y1 -071.50 lưu thông trên cầu Đ, chiều Đ hướng đi L, khi đến đoạn cột đèn T6LC/15 thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội do thiếu chú ý quan sát đã va chạm với xe ô tô BKS 29A -077.10 bị hỏng lốp bánh sau bên trái đang đỗ ở làn đường thứ nhất (tính từ mép đường chuẩn) của phần đường chiều Đông A đi đường L, bị hại anh Đỗ Hoàng P và chị Nguyễn Thị Kim L đang chữa xe. Hậu quả: anh Đỗ Hoàng P bị thương tích 99%; Nguyễn Văn S bị thương 65% và chị Nguyễn Thị Kim L bị thương; xe ôtô BKS 29A- 077.10 và xe môtô BKS 22Y1- 071.50 bị hỏng.

Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xử bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 36 tháng tù.

Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Bản thân bị cáo cũng bị thương tích 65%, bị hạn chế khả năng lao động; tại phiên tòa bị cáo trình bày hoàn bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ chồng ly hôn bị cáo đang nuôi hai con nhỏ, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.

Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 286/2023/HSST ngày 27/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội về hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điều 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn S 36 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Đăng Phong
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 591/2024/HS-PT ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 591/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án PT 591 - 19.7.2024 Nguyễn Văn S - Vi phạm QĐ về tham gia GT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger