|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 591/2024/HS-ST Ngày: 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Thẩm phán: Ông Sỹ Hồng Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Quang Việt
- Bà Trần Thị Bích Vân
- Bà Thi Thị Tuyết Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 914/2024/TLST-HS ngày 05/11/202 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4700/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị P;
giới tính: Nữ; sinh ngày: 08/02/1998, tại tỉnh Đồng Nai; hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở trước khi bị bắt: 1 T, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty cổ phần N; con ông Trần Xuân B, sinh năm 1970 và bà Dương Thị H, sinh năm 1975; bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 19/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Đào Thanh L, luật sư, thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Công ty Cổ phần Người Bạn Vàng,
Địa chỉ trụ sở: Tầng F Tòa nhà P, số B đường N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh,
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Trung H1, sinh năm 1979
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị H2, sinh năm 1998
Hộ khẩu thường trú: Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Trú tại: Lô L, Vincom C, số A C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị Cẩm M, sinh năm 1993,
- Trần Nhật Mai H3, sinh năm 1998,
- Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1980,
- Phan Thị Hồng Y,
- Võ Đại C, sinh năm 1981,
- Vũ Thị Kim T2, sinh năm 1964,
Trú tại: Ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: 105/86/7 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: 1 P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
T1 tại: Khu phố I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)
Trú tại: 3 L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa);
Trú tại: 8 L, Phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần N (gọi tắt Công ty N) có trụ sở chính tại Tầng F Tòa nhà P, số B đường N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lê Trung H1 làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc. Công ty kinh doanh trong lĩnh vực cầm cố tài sản, mua bán đồ hiệu đã qua sử dụng. Ngày 09/6/2022, Công ty Người Bạn V ký hợp đồng lao động với Trần Thị P và giao nhiệm vụ cho P làm giao dịch viên, kiêm quản lý tài sản cầm cố của Công ty tại Chi nhánh B1 địa chỉ số A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong thời gian làm việc, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của Công ty Người Bạn Vàng về tài sản của khách hàng cầm cố nên P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt các tài sản của khách hàng cầm cố cho Công ty do P quản lý để đem đi cầm cố lấy tiền trả nợ và tiêu xài. Khoảng cuối tháng 10/2022, P lên mạng xã hội Facebook tìm các trang mua bán kim cương đá quý để tham khảo giá thì thấy nickname “Thu mua kim cương giá cao” do chị Trần Thị Cẩm M làm chủ. Sau khi trao đổi với chị M thì P thấy lãi suất cầm cố cao và số tiền cầm cố không đủ để P trả nợ nên P thỏa thuận sẽ bán các sản phẩm kim cương cho chị M. Sau đó, P dùng mã vạch của các gói hàng mà P chiếm đoạt dán lên một trong số các túi xách đã có mã vạch chung của các hợp đồng cầm cố khác, để khi Công ty kiểm tra nhận diện sản phẩm cầm cố bằng cách quét mã vạch trên túi xách thì sẽ hiển thị các gói đồ khách cầm là trang sức vàng, đá quý vẫn còn. Bằng thủ đoạn này, từ cuối tháng 10/2022 đến ngày 22/11/2022, P đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt tài sản của Công ty Người Bạn V đem bán cho chị M, cụ thể như sau:
- Vụ thứ 1:
Khoảng cuối tháng 10/2022, P lấy 01 hộp niêm phong bên trong có 01 viên kim cương 6.5 ly VVS1-E đính trên vỏ nhẫn kim cương do bà Phan Thị Hồng Y cầm cho Công ty Người Bạn Vàng sau đó gửi hình cho chị M xem, sau đó chị M và P hẹn gặp nhau tại quán C1, địa chỉ số A A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch mua bán. Tại đây, P đưa hàng và giấy kiểm định cho chị M xem và nói là quà của người thân tặng, sau đó hai bên thống nhất giá mua bán là 180.000.000 đồng còn vỏ nhẫn thì P giữ lại. Chị M chuyển khoản cho P số tiền mua kim cương từ số tài khoản 19036259021011 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (T6) do chị M đứng tên vào số tài khoản nhận V2 9704229204197318844 tên Trần Nhật Mai H3 (bạn của P mở giúp cho P) do P cung cấp và trực tiếp quản lý sử dụng, số tiền bán kim cương này P sử dụng trả nợ và tiêu xài hết.
- Vụ thứ 2:
Khoảng đầu tháng 11/2022, P tiếp tục lấy 01 hộp niêm phong bên trong có 01 viên kim cương trọng lượng 5.4 ly IF-D và 01 viên kim cương 5.4 ly VVS1-D do bà Nguyễn Thị Thanh T cầm cố cho Công ty đem bán cho chị M được số tiền 120.000.000 đồng. Chị M chuyển khoản tiền mua kim cương cho P qua số tài khoản như trên, số tiền này P dùng trả nợ và tiêu xài hết.
- Vụ thứ 3:
Khoảng ngày 20-22/11/2022, P lấy 01 hộp niêm phong bên trong có 01 viên kim cương trọng lượng 6.3 ly VVSI-E của ông Võ Đại C cầm cố cho Công ty Người Bạn V đem bán cho chị M được số tiền 190.000.000 đồng và bán thêm vỏ nhẫn trong vụ thứ 1 (của bà Phan Thị Hồng Y) được 65.000.000 đồng, số tiền này P dùng trả nợ và tiêu xài hết.
- Vụ thứ 4:
Ngày 22/11/2022, P lấy 01 hộp niêm phong bên trong có 01 đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 viên kim cương trọng lượng 5.2 ly VVS1-D do chị Võ Thị Kim T3 cầm cố cho Công ty Người Bạn Vàng rồi mang về nơi ở cất giữ chờ bán cho chị M.
Ngày 03/12/2022, chị Đỗ Thị Minh T4 (nhân viên của Công ty Người Bạn Vàng) kiểm kê hàng hóa để bàn giao ca cho chị Nguyễn Ánh V1 (cũng là nhân viên của Công ty Người Bạn Vàng) thì phát hiện bị mất 01 gói hàng có mã hợp đồng BTH2211078 do khách hàng tên Vũ Thị Kim T2 cầm cố gồm 01 đôi bông tai mỗi bên có đính một viên kim cương trọng lượng 5.2 ly nên chị T4 trình báo lãnh đạo Công ty biết. Đến ngày 04/12/2022, Công ty kiểm tra phát hiện bị mất thêm 03 gói hàng khác do khách cầm cố cho Công ty nên tiến hành rà soát quy trình làm việc của các nhân viên. Ngày 12/12/2022, Công ty Người Bạn Vàng mời P đến làm việc thì P thừa nhận hành vi chiếm đoạt các tài sản của Công ty do các khách hàng cầm cố và tự nguyện nộp lại 01 đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 viên kim cương 5.2 ly VVS1-D. Sau đó, Công ty Người Bạn Vàng trình báo sự việc với Công an phường B, Quận A tiếp nhận lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết.
Ngày 27/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 có Quyết định số 13/QĐ-VKSQ1 ngày 27/11/2023 chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Trần Thị P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 378/KL-HĐĐGTS, ngày 17/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: 02 viên kim cương thiên nhiên màu trắng, hình tròn; kích thước = 5.2 mm/01 viên (trên gờ 02 viên kim cương có khắc số GIA 6355177292 và GIA 2354177210) và 16 viên kim cương tấm dạng tròn gắn trên 01 đôi bông tại bằng kim loại màu trắng. Tổng trọng lượng: 365g (đã qua sử dụng) có giá là 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng)
- Tại Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A, kết luận: 01 (Một) đôi bông tai bằng hợp kim vàng; thành phần hóa học gồm 74.9% Vàng, 0.16% Bạc, 14.9% Đồng, 3.57% Kẽm, 6.08% Nickel, 0.36% Paladi; Quy đổi là 17 Kara, khối lượng 3.6544g=0.975 chỉ, vàng 18K có trị giá 3.778.000 đồng (Ba triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
- Tại Kết luận định giá tài sản số 129/KL- HĐĐGTS ngày 20/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A, kết luận: 01 (Một) viên kim cương 6.51y VVS1E, trọng lượng 1.05 Carat, đính trên 01 (Một) vỏ nhẫn kim cương tắm có giá là 521.250.000 đồng (Năm trăm hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (Một) viên kim cương 5.4ly IF-D, trọng lượng 0.57 Carat có giá là 108.400.000 đồng (Một trăm lẻ tám triệu bốn trăm ngàn đồng); 01 viên kim cương 5.4ly VVS1-D, trọng lượng 0.61 carat có giá là 119.300.000 đồng (Một trăm mười chín triệu ba trăm ngàn đồng); 01 (Một) viên kim cương 6.3 ly VVS1-E, trọng lượng 1 carat có giá là 410.600.000 đồng (Bốn trăm mười triệu sáu trăm ngàn đồng). Tổng trị giá của 04 lần chiếm đoạt qua định giá là: 1.283.328.000 đồng (Một tỷ hai trăm tám mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng).
* Vật chứng:
- 01 (Một) đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 (Một) viên kim cương 5.2 ly WS1-D. Ngày 16/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Lê Thông T5 là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu trắng, Imei: 359265386083162.
* Về dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N yêu cầu bị cáo P bồi thường tổng giá trị tài sản mà bị can P chiếm đoạt là 995.364.000 đồng cho Công ty.
Tại Bản cáo trạng số: 563/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Thị P về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Bị cáo Trần Thị P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý thỏa thuận bồi thường cho Công ty cổ phần N do ông Lê Trung H1 làm Tổng giám đốc với số tiền chiếm đoạt là 995.364.000 đồng.
- Bà Đinh Thị H2 đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N trình bày: Yêu cầu bị cáo Trần Thị P bồi thường cho Công ty cổ phần N, với số tiền còn lại là 995.364.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự bà Định Thị H4 đề nghị xét xử bị cáo theo các quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều có lời khai trong hồ sơ vụ án phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm kết luận vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Trần Thị P về tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị P mức án 20 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự, đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho Công ty cổ phần Người Bạn Vàng số tiền 995.364.000 đồng. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Luật sư trình bày lời bào chữa cho mình.
- Luật sư Đào Thanh L trình bày bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự, song mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo là 20 năm tù là quá nghiêm khắc, với các lý do sau đây: Về hoàn cảnh gia đình bị cáo quá khó khăn, bị cáo đã tự phấn đấu học hành và tốt nghiệp đại học Ngân hàng, nên khi được nhận vào làm tại Công ty cổ phần N, mới giao nhiệm vụ giao dịch viên, kiêm trực tiếp quản lý các tài sản có giá trị lớn, đồng thời từ sự quản lý lỏng lẻo của Công ty mới dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi bị phát hiện bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải và đã tự nguyện giao nộp lại số tài sản bị cáo đã tham ô là 01 đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 viên kim cương 5.2 ly VVS1-D, như vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị, để bị cáo sớm được hòa nhập cộng đồng và lo cho cha, mẹ.
Bị cáo Trần Thị P đồng ý với bào chữa của Luật sư, không bào chữa bổ sung và xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại Đinh Thị H2 không có ý kiến tranh luận.
- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Hành vi bị cáo giao nộp lại 01 đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 viên kim cương 5.2 ly VVS1-D là không phải bồi thường khắc phục hậu quả, mà là bị cáo nộp lại vật chứng đã tham ô, nên không chấp nhận lời bào chữa của luật sư cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sư.
Qua nội dung đối đáp, Luật sư và đại diện Viện kiểm sát đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra Bản án đúng theo các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Trần Thị P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản xác minh, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vì mục đích vụ lợi, Trần Thị P trong quá trình làm giao dịch viên, kiêm quản lý tài sản cầm cố của Công ty Người Bạn Vàng tại Chi nhánh B1, địa chỉ số A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã lợi dụng nhiệm vụ được giao, cũng như sự quản lý lỏng leo của công ty, nên từ cuối tháng 10/2022 đến ngày 22/11/2022, P đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt tài sản của Công ty Người Bạn Vàng. Các tài sản đã chiếm đoạt gồm: 02 viên kim cương thiên nhiên màu trắng, hình tròn và 16 viên kim cương tấm dạng tròn gắn trên 01 đôi bông tại bằng kim loại màu trắng, có giá là 120.000.000 đồng; 01 (Một) đôi bông tai bằng hợp kim vàng có trị giá 3.778.000 đồng; 01 (Một) viên kim cương 6.51y VVS1E và 01 (Một) vỏ nhẫn kim cương tắm có giá là 521.250.000 đồng; 01 (Một) viên kim cương 5.41y IF-D, có giá là 108.400.000 đồng; 01 viên kim cương 5.4ly VVS1-D, có giá là 119.300.000 đồng; 01 (Một) viên kim cương 6.3 ly VVS1-E, có giá là 410.600.000 đồng. Tổng trị giá của 04 lần chiếm đoạt qua định giá là: 1.283.328.000 đồng, rồi đem cất giữ và bán cho Trần Thị Cẩm M để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thị P là người được giao nhiệm vụ giao dich viên, quản lý tài sản cầm cố của Công ty cổ phần N đã lợi dụng quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên” nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do lười lao động, đồng thời để có tiền nhằm thoả mãn tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật để cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở nên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Thị P có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Do vậy, Hội đồng xét xử thấy bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, song hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nên cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo Trần Thị P đã gây ra và phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định để răn đe, phòng ngừa chung và cũng để bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự.
[3] Đối với Trần Nhật M1 H3 là người đứng tên mở tài khoản Viettel Pay số 9704229204197318844 để P sử dụng nhận tiền bán tài sản của Công ty, nhưng H3 không biết việc P sử dụng tài khoản này để nhận tiền phạm tội mà có, nên hành vi của H3 không cấu thành tội “Tham ô tài sản”. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp, nên không xem xét và đề cập đến.
Đối với Trần Thị Cẩm M có hành vi mua kim cương của Trần Thị P, nhưng chị M không biết số kim cương P đem bán là do phạm tội mà có, nên chưa đủ có căn cứ để xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hội đồng xét xử xét thấy Trần Thị Cẩm M là người có hành vi mua kim cương của Trần Thị P nhiều lần với giá thấp hơn giá của thị trường, giá công ty phải bồi thường cho người cầm cố, cũng như giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, mặc dù M khai không biết kim cương P bán là do phạm tội mà có, song theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì trước khi giao dịch P đã gặp và giao dịch trước với M và không thể liên tục có kim cương người thân tặng cho P để P bán cho M, cũng như không có giấy xác nhận nguồn gốc kim cương..., do vậy đề nghị tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ hành vi của Trần Thị Cẩm M để xử lý theo các quy định của pháp luật, tranh bỏ lọt người phạm tội.
[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đã truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.
Lập luận trên đây cũng là cơ sở để không chấp nhận lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo đã trình bày tại phiên tòa về lỗi của Công ty cổ phần Người Bạn Vàng, cũng như không đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xét xử bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Người Bạn Vàng yêu cầu bị cáo bồi thường với số tiền 995.364.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị P đồng ý bồi thường theo yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Người Bạn Vàng nên Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận và buộc bị cáo Trần Thị P phải bồi thường số tiền trên. Việc thực hiện giao nhận các khoản tiền nêu trên tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: Phan Thị Hồng Y, Nguyễn Thị Thanh T, Võ Đại C, Vũ Thị Kim T2 là những người cầm cố tài sản tại Công ty cổ phần N bị P chiếm đoạt mất tài sản cầm cố, sau khi Công ty thỏa thuận và trừ đi khoản tiền lãi thì đã bồi thưởng với số tiền tổng cộng là 995.364.000 đồng, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trên không có khiếu nại, thắc mặc gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (Một) đôi bông tai kim cương mỗi bên có đính 01 (Một) viên kim cương 5.2 ly WS1-D. Ngày 16/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Lê Thông T5 là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét và đề cập đến.
- Thu giữ của bị cáo Trần Thị P 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu trắng, Imei: 359265386083162. Hội đồng xét xử thấy đây công cụ bị cáo dùng để liên lạc khi phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
[9]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Thị P: 20 (hai mươi) năm tù, về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.
2/ Trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ các Điều 357, 468; 584; 585; 589 Bộ luật dân sự năm 2015,
Buộc bị cáo Trần Thị P bồi thường cho Công ty cổ phần N số tiền 995.364.000 (Chín trăm chín mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng. Việc thực hiện giao nhận các khoản tiền nêu trên tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả cho bên được thi hành án theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3/ Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro, màu trắng, Imei: 359265386083162 (đã qua sử dụng) (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu trắng, Imei khay sim: 359265386083162, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
(Vật chứng nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang vật số NK2024/530 ngày 06/09/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
4/ Về kiến nghị:
Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ hành vi của Trần Thị Cẩm M là người mua kim cương của Trần Thị P nhiều lần với giá trị thấp, có dấu hiệu đồng phạm hoặc phạm tội một tội phạm khác, để xử lý theo các quy định của pháp luật, tránh bỏ lọt người phạm tội.
5/ Về án phí:
Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ Q1;
Bị cáo Trần Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 41.860.920 (Bốn mươi mốt triệu, tám trăm sáu mươi nghìn chín trăm hai mươi) đồng.
6/ Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 12 năm 2024) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo về quyền lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Hồng Sơn |
Bản án số 591/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tham ô tài sản
- Số bản án: 591/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị P phạm tội Tham ô tài sản
