|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 591/2024/DS-PT Ngày: 04-12-2024 V/v “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2024/TLPT-DS, ngày 16-10-2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 628/2024/QĐ-PT, ngày 12 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 171/2024/QĐ-PT, ngày 27 tháng 11 năm 2024; giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trang Thị Kim P, sinh năm 1987; ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ E, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (bà P có mặt, ông N vắng mặt).
- - Người kháng cáo: Bà Trang Thị Kim P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Thanh T1 buôn bán với nhau, bà T1 có nợ tiền ông nên ngày 18/01/2023 ông khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ngày 09/3/2023, Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án số 16/2023/QĐCNHGT-DS, buộc bà T1 trả cho ông số tiền gốc là 803.000.000 đồng, không tính lãi.
Sau khi có quyết định thỏa thuận thì ông làm đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến nay bà T1 chưa trả cho ông khoản tiền nào. Theo ông được biết bà T1 có vay tiền của bà P. Để đảm bảo trả nợ bà T1 phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 317, tờ bản đồ số 62, diện tích 222,2 m² đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh dưới dạng làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 30/5/2022, tại Văn phòng C tỉnh Tây Ninh các bên tiến hành ký kết hợp đồng. Vợ chồng ông N, bà P đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2022 bà T1 có khởi kiện bà P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng trên thì phát hiện việc bà P cho vay lãi nặng nên đã bị xử lý hình sự. Do vậy ông khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 317, tờ bản đồ số 62, diện tích 222,2 m² đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giữa bà T1 và bà P, ông Nam vô H vì hợp đồng này là giả tạo và hiện nay bà T1 không còn tài sản nào khác để thi hành án cho ông. Còn việc vay mượn giữa bà T1 và bà P như thế nào ông không biết, ông không có ý kiến về nội dung này. Đối với hậu quả hợp đồng vô hiệu thì không yêu cầu về nội dung này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày:
Khoảng năm 2018 đến năm 2020, bà có vay tiền của bà Trang Thị Kim P ba lần với số tiền vay tổng cộng là 350.000.000 đồng gốc. Đến ngày 20/10/2020 bà P tính toán tiền lãi của 3 tháng còn nợ là 150.000.000 đồng nên bà P yêu cầu bà ghi lại giấy nợ mới số tiền vay gốc là 500.000.000 đồng.
Một thời gian sau do không còn đủ khả năng trả lãi nữa nên bà P có hỏi bà có tài sản nào không, nếu có thì đem cầm cố cho bà P để trừ bớt tiền lãi. Ngày 30/5/2022, bà P đưa cho bà số tiền 100.000.000 đồng để trả nợ cho Ngân hàng Agribank thị trấn T lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 317, tờ bản đồ số 62 về để làm thủ tục sang tên cho bà P nhưng thực chất chỉ là cầm cố, thế chấp nhà vay tiền. Cùng ngày 30/5/2022 bà và vợ chồng bà P ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C, tỉnh Tây Ninh. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, bà P đưa tiếp cho bà số tiền 100.000.000 đồng, không làm giấy tờ giao nhận tiền vì đất bà đã thế chấp cho bà P. Lý do bà P đưa cho bà thêm số tiền 100.000.000 đồng là vì bà cũng có nhu cầu vay thêm nên bà P yêu cầu bà phải đưa giấy đất để đảm bảo cho khoản vay trước đó và số tiền vay thêm.
Trong hợp đồng thể hiện số tiền chuyển nhượng là 450.000.000 đồng nhưng thực tế không có giao nhận số tiền này. Lúc đầu bà P nói cầm số tiền 450.000.000 đồng, trong đó 100.000.000 đồng trả ngân hàng, sẽ đưa cho bà 150.000.000 đồng, còn 200.000.000 đồng trả lãi. Nhưng sau đó bà P chỉ đưa cho bà số tiền 200.000.000 đồng, còn 250.000.000 đồng để trả lãi cho các khoản vay trước đó. Số tiền 200.0000.000 đồng này thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng, không có thời hạn vay. Chứng cứ chứng minh lời trình bày của bà là đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà và bà P. Ngoài ra không còn chứng cứ gì khác.
Bà trả lãi hàng tháng bắt đầu ngày 01/6/2022 AL đến khi bà khởi kiện đến Tòa án (ngày 07/11/2022) thì ngưng trả lãi được số tiền 55.000.000 đồng, không có giấy tờ ký nhận lãi nhưng có đoạn ghi âm bà P xác nhận có nhận tiền lãi của bà. Khi không còn khả năng đóng lãi nữa thì bà P đến nhà quậy, đòi lấy nhà nên bà khởi kiện đến Tòa án mới dẫn đến vụ án hình sự.
Nay bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa bà và vợ chồng bà P là giả tạo để che giấu hợp đồng vay số tiền 200.000.000 đồng nên thống nhất hợp đồng bị vô hiệu. Đối với hậu quả hợp đồng vô hiệu, sau khi nghe giải thích, thì ý kiến của bà như sau: ngày 30/5/2022 bà có nhận của bà P số tiền 200.000.000 đồng thì bà đồng ý trả lại cho bà P số tiền 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 07/11/2022 với mức lãi suất 0.83%/tháng cho đến khi giải quyết xong vụ án. Đối với số tiền lãi đã đóng bà không có yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Thị Kim P trình bày:
Bà và bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Hoàng Văn T chỉ là hàng xóm, không có họ hàng. Nội dung chuyển nhượng thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, diện tích 222,2 m² giữa vợ chồng bà và bà Nguyễn Thị Thanh T1 thì bà đã trình bày trong vụ án dân sự trước đây khi bà T1 khởi kiện, nội dung này bà không nhắc lại, Tòa án căn cứ lời khai đó của bà để giải quyết, bà không khai nữa. Hiện tại bà T1 vẫn đang sử dụng nhà đất bà đã mua, không trả nhà cho bà. Bà mua nhà đất giá 450.000.000 đồng, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T vì bà mua hợp pháp, đã đứng tên hợp pháp nên là tài sản của vợ chồng bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà P trình bày vợ chồng bà nhận chuyển nhượng thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62 với giá 450.000.000 đồng. Bà đưa cho bà T1 100.000.000 đồng để lấy giấy đất từ ngân hàng ra làm thủ tục chuyển nhượng, số tiền còn lại giao đủ cho bà T1 sau khi công chứng hợp đồng, tuy nhiên không có giấy tờ giao nhận tiền. Bà không đồng ý lời trình bày của bà T1. Đoạn ghi âm bà T1 cung cấp không liên quan đến nhà đất bà đã mua. Vợ chồng bà mua đất hợp pháp, đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T. Trường hợp hợp đồng bị vô hiệu thì bà yêu cầu bà T1 trả cho vợ chồng bà số tiền 450.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày nhận tiền cho đến ngày xét xử với lãi suất 0,83%/tháng. Hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Chi cục Thi hành án đã trả lại cho vợ chồng bà, vợ chồng bà đang giữ, không thế chấp hay chuyển nhượng cho ai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành N trình bày:
Nội dung chuyển nhượng thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, diện tích 222,2 m² giữa vợ chồng ông và bà Nguyễn Thị Thanh T1 thì ông đã trình bày trong vụ án dân sự trước đây khi bà T1 khởi kiện, nội dung này ông không nhắc lại, Tòa án căn cứ lời khai đó của ông để giải quyết, ông không khai nữa. Hiện tại bà T1 vẫn đang sử dụng nhà đất ông đã mua. Ông mua nhà đất giá 450.000.000 đồng, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T vì ông mua hợp pháp, đã đứng tên hợp pháp nên là tài sản của vợ chồng ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, 122, khoản 1 Điều 124, 131, Điều 407, 463, 466, 468, khoản 2 Điều 469, 500 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” của ông Hoàng Văn T đối với bà Nguyễn Thị Thanh T1.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30/5/2022, công chứng ngày 30/5/2022 tại Phòng C1 tỉnh Tây Ninh giữa bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trang Thị Kim P, ông Nguyễn Thành N đối với quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 có quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng các tài sản trên đất gồm nhà cấp 4, mái che, hàng rào.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm trả cho bà Trang Thị Kim P và ông Nguyễn Thành N số tiền nợ gốc là 189.820.000 đồng (một trăm tám mươi chín triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã trả tiền lãi đến ngày xét xử xơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18-9-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Thị Kim P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trang Thị Kim P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trang Thị Kim P; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
- [1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18-9-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Thị Kim P có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của bà P trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- [1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Văn T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện vẫn thuộc phạm vi khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- [3] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trang Thị Kim P. Bà P cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giữa vợ chồng bà và bà T1 là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy:
- [3.1] Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng ngày 30/5/2022 tại Phòng C1 tỉnh Tây Ninh giữa bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trang Thị Kim P, ông Nguyễn Thành N đối với quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đúng trình tự thủ tục về hình thức. Tuy nhiên, thực tế trên đất có 01 căn nhà cấp 4 hiện bà T1 đang quản lý, sử dụng và căn cứ vào xác minh giá đất thực tế chuyển nhượng vào năm 2022 (thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng) thì thửa đất có giá dao động từ 80.000.000 đồng – 100.000.000 đồng/m ngang, nên giá trị đất từ khoảng 840.000.000 đồng đến 1.050.000.000 đồng và trên đất còn có các tài sản gồm: nhà cấp 4 diện tích 110,7 m², mái che, hàng rào có tổng giá trị là 222.827.000 đồng. Bà P trình bày giá chuyển nhượng 450.000.000 đồng là không tương xứng giá trị tài sản tại thời điểm chuyển nhượng.
- [3.2] Mặc khác, tại thời điểm chuyển nhượng bà T1 còn đang nợ tiền của bà P và nhiều người khác, nhưng lại chuyển nhượng tài sản duy nhất với giá trị thấp hơn so với giá thực tế là không hợp lý và không đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ cho tất cả các chủ nợ.
- [3.3] Bà P, ông N cho rằng khi chuyển nhượng đất của bà T1, ông, bà đã đưa cho bà T1 450.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà P, ông N không có chứng cứ nào chứng minh cho việc giao trả cho bà T1 số tiền 450.000.000 đồng; mà trên thực tế các bên thừa nhận cũng như căn cứ vào nội dung các cuộc hội thoại trong bản ghi âm do bà T1 cung cấp, thể hiện: Bà T1 có nhận của bà P 100.000.000 đồng để lấy giấy CNQSDĐ từ Ngân hàng ra và 100.000.000 đồng bà P đưa trực tiếp cho bà T1, được bà T1 thừa nhận. Nên có cơ sở xác định bà P, ông N có giao cho bà T1 số tiền 200.000.000 đồng.
- [3.4] Do đó, có căn cứ xác định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62 giữa bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trang Thị Kim P, ông Nguyễn Thành N là không có thật, giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn T; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30/5/2022, công chứng ngày 30/5/2022 tại Phòng C1 tỉnh Tây Ninh giữa bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trang Thị Kim P, ông Nguyễn Thành N đối với quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Về xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
- [4.1] Do hợp đồng vô hiệu nên xác định quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng các tài sản trên đất gồm nhà cấp 4, mái che, hàng rào vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà T1 và hiện tại bà T1 đang quản lý, sử dụng nên không cần buộc bà P, ông N trả lại tài sản.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- [4.2] Giao dịch giả tạo bị vô hiệu nhưng giao dịch bị che giấu là hợp đồng vay tài sản vẫn có hiệu lực. Đây là hợp đồng vay không kỳ hạn, có lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, bà T1 phải có nghĩa vụ trả lại cho bà P, ông N số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, có căn cứ xác định bà T1 đã trả tiền lãi 55.000.000 đồng và bà T1 có yêu cầu tính lại tiền lãi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tính lại lãi suất vay, khấu trừ số tiền lãi đã đóng vào tiền lãi và tiền nợ gốc là có căn cứ.
- [4.3] Do các bên đương sự có tranh chấp và không xác định rõ mức lãi suất nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất trong trường hợp này là 0.83%/tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là đúng quy định.
- [5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trang Thị Kim P; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
- [7] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Toà án cấp sơ thẩm tính lại tiền lãi, khấu trừ tiền lãi bà T1 đã đóng và buộc bà T1 trả cho bà P, ông N số tiền nợ gốc là 189.820.000 đồng và ghi nhận đã trả tiền lãi đến ngày xét xử là có căn cứ.
Tuy nhiên, trong vụ án này các bên đương sự có tranh chấp và không thể hiện có thỏa thuận lãi suất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án “Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015” là chưa phù hợp. Bởi vì, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có quy định: “…………các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh cách tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án trong phần Quyết định của bản án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trang Thị Kim P.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, 122, khoản 1 Điều 124, 131, Điều 407, 463, 466, 468, khoản 2 Điều 469, 500 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” của ông Hoàng Văn T đối với bà Nguyễn Thị Thanh T1.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30/5/2022, công chứng ngày 30/5/2022 tại Phòng C1 tỉnh Tây Ninh giữa bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Trang Thị Kim P, ông Nguyễn Thành N, đối với quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
- Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 có quyền quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 222,2 m², thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ số 62, đất tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng các tài sản trên đất gồm nhà cấp 4, mái che, hàng rào.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- - Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm trả cho bà Trang Thị Kim P và ông Nguyễn Thành N số tiền nợ gốc là 189.820.000 đồng (một trăm tám mươi chín triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã trả tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Hoàng Văn T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006117 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- - Bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.791.000 đồng (chín triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
- - Bà Trang Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng: ghi nhận ông Hoàng Văn T tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), đã nộp xong.
- Về án phí phúc thẩm dân sự: Bà Trang Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006588 ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Bà P đã nộp xong án phí phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 591/2024/DS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu
- Số bản án: 591/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
