Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 590/2023/HSPT

Ngày 23 tháng 8 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 329/2023/HSPT-TL ngày 10 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Thị T do Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1137/2023/QĐPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023.

Bị cáo bị kháng nghị:

Phạm Thị T, sinh năm 1993 tại A, Kiên Giang.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nữ; con ông Phạm Văn T1 và bà Huỳnh Ngọc M; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/5/2022.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K (có mặt)

Người bào chữa: Luật sư Ngọc D - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 24/5/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh K phối hợp với Công an thành phố Phú Quốc tuần tra trên đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang phát hiện thu giữ trên tay trái của Phạm Thị T cầm 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có 05 viên nén màu hồng và 02 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền xanh và viền trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất. T khai nhận đây là ma túy của người tên K (không rõ nhân thân) nhờ T giao bán cho người thanh niên trước quán C (trên đường C, thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) với giá 7.200.000 đồng, T sẽ được K cho hưởng lợi 30.000 đồng, nhưng chưa kịp giao thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Công an tiến hành khám xét nơi T lấy ma túy tại khu vực bãi đất trống trên đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, Công an thu giữ thêm 05 bịch nylon, bên trong có chứa 53 viên ma túy và 12 bịch nylon chứa ma túy, T khai nhận đây là ma túy của K để khi có người mua ma túy T đến đây lấy để giao bán cho khách, theo hướng dẫn của K.

Quá trình điều tra: Nguyễn Thị T2 khai nhận vào ngày 09/5/2022 trong quá trình đi giao hàng (T2 làm nghề S) có gặp người phụ nữ tên K (chưa rõ nhân thân), K nói với T2 nếu đồng ý đi giao ma túy cho K, K sẽ trả tiền công cho T2. Khi nào khách hỏi mua ma túy K sẽ điện thoại hoặc nhắn tin cho T2 đến (khu vực bãi đất trống trên đường C, khu phố A, phường D, thành phố P) nơi K cất giấu ma túy giao cho khách theo hướng dẫn của K, T2 đồng ý. Đến khoảng 21 giờ 10 phút ngày 24/5/2022, K nhắn tin cho T2 đến khu vực cất giấu ma túy nói trên lấy 01 bịch nylon bên trong có chứa 05 viên ma túy, 02 bịch nylon chứa ma túy đến khu vực quán C Tím trên đường C, khu phố A, phường D để bán cho một người thanh niên chưa rõ nhân thân với số tiền 7.200.000 đồng, K sẽ trả tiền công cho T2 30.000 đồng. Tuyền đang cầm trên tay số ma túy nói trên chưa kịp giao thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, T2 còn khai nhận trước đó đã bán ma túy giúp K 02 lần, cho 02 người, 04 viên ma túy vào các ngày 20 và 22/5/2022, tiền mua ma túy khách trả trực tiếp cho K, T2 được K cho hưởng lợi số tiền 80.000 đồng.

Như vậy, Phạm Thị T đã giúp sức cho K, bán ma túy cho 02 người 02 lần, 04 viên, được K cho hưởng lợi 80.000 đồng. Đến ngày 24/5/2022 tiếp tục đi giao ma túy thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Thị T:

  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 05 x 08cm, bên trong có chứa 05 viên nén màu hồng hình dạng không xác định có chữ Red Bull;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 3,5 x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 3,7 x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất

Bị cáo tự nguyện giao nộp, thu giữ:

  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu trắng, kích thước 05 x 8,5cm, bên trong có chứa 21 viên nén màu hồng hình dạng không xác định có chữ Red Bull;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 4,4 x 7,5cm, bên trong có chứa 14 viên nén màu hồng hình dạng không xác định có chữ Red Bull;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 4,4 x 7,5cm, bên trong có chứa 13 viên nén màu hồng hình dạng không xác định có chữ M&M và 01 viên nén màu hồng hình dạng không xác định Red B;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 05 x 8,7cm, bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng hình dạng không xác định và 2/3 viên nén màu hồng hình dạng không xác định;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 4,4 x 86,5cm, bên trong có chứa 1/2 viên nén màu xanh hình dạng không xác định và 1/2 viên nén màu hồng hình dạng không xác định;
  • 02 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 3,7 x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 02 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu xanh, kích thước 3,7 x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu xanh, kích thước 3,7 x 04cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 04 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 2,5 x 2,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu đỏ, kích thước 2,2 x 03cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu trắng, kích thước 02x2,7cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;
  • 01 bịch nylon màu trắng, rãnh gài viền màu xanh, kích thước 02 x 2,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất;

Tất cả đã được niêm phong gửi giám định.

01 Điện thoại di động của Phạm Thị T nhãn hiệu Vivo màu xanh có số IMEI 1: 861428051903970, số IMEI 2: 861428051903962, máy đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 455/KL-KTHS ngày 01/6/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:

  • Gói 1: 05 viên nén màu hồng, không rõ hình dạng, có chữ Red B chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, MDMA. Khối lượng mẫu giám định là 2,9256 gam; Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon màu trắng đưa đi giám định là chất ma túy, loại Ketamine có khối lượng 3,1255 gam.
  • Gói 2: Các viên nén màu hồng, các phần viên nén màu hồng và các chất bột màu hồng đưa đi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, MDMA có khối lượng là 30,3634 gam; Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 12 (mười hai) bịch nylon màu trắng đưa đi giám định là chất ma túy, loại Ketamine có khối lượng 9,4147 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ – CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ – CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ – CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT – VKSTKG – P1 ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2023/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sưa đổi, bổ sung năm 2017.

Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sưa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T 11 (Mười một) năm tù, thơi điểm chấp hành hình phạt tù tính tư ngày 24/5/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 28/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định số 20/QĐ-VC3-V1 kháng nghị bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 và tăng hình phạt đối với bị cáo T.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không kháng cáo, bị cáo đề nghị được giữ nguyên hình phạt của Tòa sơ thẩm, bác kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Giữ nguyên kháng nghị và nêu ý kiến tòa án sơ thẩm đã áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T 11 (Mười một) năm tù là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị và tăng hình phạt cho bị cáo T từ 11 năm tù lên 15 đến 16 năm tù.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh và điều luật mà Tòa sơ thẩm đã áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; tự thú về những lần bán ma túy trước mà Cơ quan điều tra không phát hiện; số tiền thu lợi bất chính rất ít; vai trò của bị cáo là người giúp sức cho tên K; phạm tội lần đầu; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, sống thiếu tình thương của cha mẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư, và của bị cáo.

[1] Về tính hợp lệ đơn kháng nghị: Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh được ban hành trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:

Phạm Thị T làm nghề shipper (giao hàng). Vào ngày 24/5/2022, Phạm Thị T nhận lời của người tên K (chưa rõ nhân thân) đi bán ma túy cho một người thanh niên tại quán C Tím trên đường C, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang với số tiền là 7.200.000 đồng, khi T đang cầm ma túy trên tay, chưa kịp giao thì bị bắt quả tang. Sau đó, khám xét nơi T lấy ma túy (bãi đất trống trên đường Cách mạng tháng tám, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang) phát hiện và thu giữ thêm 05 bịch nylong, có chứa 53 viên ma túy, 12 bịch nylong chứa ma túy. Ngoài ra, T còn khai nhận, trước đó vào ngày 20 và 22/5/2022, T giúp Kim bán ma túy 02 lần cho 02 người, 04 viên ma túy và được hường lợi số tiền 80.000 đồng. Qua giám định, tổng khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét là 33,289 gam MDMA, Methamphetamine và 12,5402 gam Ketamine.

Do vậy, có đủ cở sở xác định bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 BLHS như cấp sơ thẩm đã truy tố xét xử là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được rằng: Ma tuý là loại độc dược gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ mục đích hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, giúp sức cho người tên Kim bán ma túy nhiều lần. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây nên; cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo được tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thị T là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thúc biết rõ ma túy là loại độc dược gây nghiện, do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Chỉ vì mục đích tư lợi bất chính mà bị cáo T đã bất chấp, xem thường pháp luật, đã mua bán ma túy nhiều lần, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 15 đến 20 năm.

Bản án sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Thị T 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tại thời điểm bị cáo T bị bắt quả tang khám xét và thu giữ với tổng khối lượng ma túy các loại là 45,8202 gam (33,289 gam MDMA,Methamphetamine và 12,5402 gam Ketamine) và thuộc trường hợp “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất ma túy tương đương với khối lượng quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g” được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và thuộc trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, nên Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để tăng mức hình phạt bị cáo từ 11 năm lên 15-16 năm tù.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình gia đình có công với Cách mạng nên Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới khung hình phạt là có căn cứ. Tuy nhiên, mức án 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là nhẹ so với số lượng thu giữ của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về hình phạt.

Tuyên xử:

Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sưa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T 12 (mười hai) năm tù, thơi điểm chấp hành hình phạt tù tính tư ngày 24/5/2022.

2. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại thành phố Hồ Chí Minh (1)
  • - TAND tỉnh Kiên Giang(1);
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang(1);
  • - CA tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang(1);
  • - Trại tạm giam (tống đạt cho bị cáo) (2)
  • - Lưu (5).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 590/2023/HSPT ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 590/2023/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger