TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 590/2024/DS-ST | |
Ngày: 15-8-2024 | |
V/v Tranh chấp hợp đồng | |
vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Từ Xuân Anh
- Bà Đoàn Thị Ngọc Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 508/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N. Trụ sở: 02 L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên lạc: Chi nhánh T1 - số A L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, theo Giấy ủy quyền ngày 14/8/2024. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1980;
Bà Đinh Thị T, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: D N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình giải quyết, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/01/2019, ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T (sau đây gọi tắt là bị đơn) đã ký với Ngân hàng N - Chi nhánh T1 (sau đây gọi tắt là A hoặc ngân hàng) hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-201900096 để vay tiền với nội dung cơ bản như sau:
- Số tiền cho vay: 14.500.000.000 đồng
- Mục đích vay vốn: Mua nhà ở, đất ở
- Phương thức cho vay: Cho vay từng lần
- Thời gian cho vay: 240 tháng, kể từ ngày 25/01/2019 đến ngày 25/01/2039.
Sau khi giải ngân, bị đơn mới chỉ trả được thời gian đầu và liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn chịu trách nhiệm trả các khoản sau:
- Nợ gốc: 8.580.000.000 đồng
- Nợ lãi trong hạn: 4.503.580.823 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 178.731.917 đồng
- Tổng cộng: 13.262.312.740 đồng
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản bảo đảm sau:
- Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 6360-LCL-201900078 ký ngày 24/01/2019 là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 628, tờ bản đồ số 8, địa chỉ phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T làm chủ sở hữu.
- Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL- 201900359 ký ngày 24/04/2019 là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 572, 573, tờ bản đồ số 40, địa chỉ phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Văn L làm chủ sở hữu.
Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T còn phải thanh toán cho Ngân hàng các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nơ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ.
Bị đơn – ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc ông L và bà T thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 15/8/2024 là 14.840.915.208 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 8.580.000.000 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 5.555.982.467 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 704.932.741 đồng.
Yêu cầu thanh toán ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ông L và bà T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay đã ký kết từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp, ông L và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Bị đơn – ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp; kiến nghị Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn vị xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phần tranh tụng tại phiên tòa đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn - Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn - ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T trả các khoản tiền còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-201900096 ngày 24/01/2019. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết, quá trình nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn có văn bản lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồng tín dụng để giải quyết. Xét thấy, hợp đồng tín dụng và quá trình giải ngân đều được thực hiện tại Ngân hàng N - Chi nhánh quận T1 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét phía bị đơn – ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền còn thiếu tạm tính đến ngày đến ngày 15/8/2024 là 14.840.915.208 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-201900096 ngày 24/01/2019 và các giấy nhận nợ ngày 25/01/2019, 23/4/2019, 25/4/2019 thể hiện ngân hàng đã giải ngân cho ông L và bà T vay số tiền 14.320.000.000 đồng để thanh toán mua nhà. Căn cứ vào bản kê gốc lãi của nguyên đơn thì bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc là 14.840.915.208 đồng kèm các khoản lãi phát sinh mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản khác có liên quan cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến tranh chấp hay phản đối. Như vậy, có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc và lãi như nguyên đơn trình bày. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số công nợ còn thiếu nêu ở trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu bị đơn còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 16/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Xét thấy, yêu cầu này là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận đã ký kết giữa các bên trong hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị đơn thanh toán một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.
[2.4] Về yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp để thu hồi nợ của nguyên đơn:
Xét tài sản thế chấp thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc trong trường hợp bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ cho Ngân hàng:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 628, tờ bản đồ số 8, địa chỉ phường C, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T làm chủ sở hữu ( theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 6360-LCL-201900078 ký ngày 24/01/2019).
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 572, 573, tờ bản đồ số 40, địa chỉ phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Văn L làm chủ sở hữu (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-201900359 ký ngày 24/04/2019).
[3] Như đã nhận định trên Hội đồng xét xử đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về chi phí tố tụng và án phí:
- Áp dụng Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng do bị đơn chịu. Nguyên đơn đã tạm ứng số tiền này nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 14.840.915.208 đồng phải trả cho nguyên đơn. Án phí bị đơn phải chịu là 122.840.915 đồng. H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 299, 320, 322, 323, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng N:
1.1. Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ tạm tính đến ngày 15/8/2024 là 14.840.915.208 (Mười bốn tỉ, tám trăm bốn mươi triệu, chín trăm mười lăm ngàn, hai trăm lẻ tám) đồng (trong đó bao gồm: nợ gốc là 8.580.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.555.982.467 đồng, nợ lãi quá hạn là 704.932.741 đồng) để chấm dứt nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-201900096 ngày 24/01/2019 mà các bên đã ký kết.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 16/8/2024 theo mức lãi suất quá hạn, lãi phạt quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-201900096 ngày 24/01/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ.
1.2. Trường hợp ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T không thanh toán được số nợ nói trên, Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản đã thế chấp sau đây để thu hồi nợ:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 628, tờ bản đồ số 8, địa chỉ phường C, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận số BR 385020, số vào số cấp GCN CH 01632 do Ủy ban nhân dân Quận B cấp ngày 11/11/2013 (Hợp đồng thế chấp tài sản số 6360-LCL-201900078 ký ngày 24/01/2019).
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 572, 573, tờ bản đồ số 40, địa chỉ phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận số CA 172597, số vào số cấp GCN CH 03006 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 02/6/2015 (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-201900359 ký ngày 24/04/2019).
Khi ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng N có nghĩa vụ hoàn trả lại toàn bộ các giấy tờ liên quan tài sản bảo đảm cho bên thế chấp.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T đối với Ngân hàng N thì ông L và bà T có trách nhiệm thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.
Trường hợp nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T đối với Ngân hàng N thì hoàn trả phần giá trị chênh lệch cho bên thế chấp.
2. Về chi phí tố tụng và án phí:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng do ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T chịu. Ông L và bà T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng.
- Ông Hoàng Văn L và bà Đinh Thị T phải chịu án phí sơ thẩm là 122.840.915 (Một trăm hai mươi hai triệu, tám trăm bốn mươi ngàn, chín trăm mười lăm) đồng. Hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.631.156 (Sáu mươi triệu, sáu trăm ba mươi mốt ngàn, một trăm năm mươi sáu) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023684 ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hiếu |
Bản án số 590/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 590/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N - Hoàng Văn L, Đinh Thị T
