|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 590/2024/HS-PT Ngày: 23/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Trần Thị Quỳnh; |
| Các Thẩm phán: | Ông Ong Thân Thắng; |
| Ông Đặng Văn Hưng. |
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Lê Giang - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Vũ Văn Biểu - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần – trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 615/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị D.
Do có kháng cáo của bị hại là ông Nguyễn Đăng T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS- ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Phạm Thị D, sinh năm 1977; Cư trú tại: số E, G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam N2 – Bộ C1; nghề nghiệp: trước khi phạm tội là nhân viên Phòng Kế toán - Tài chính của Công ty Cổ phần Đ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình N, sinh năm 1940 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1940; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; chồng là Phạm Văn H, sinh năm 1973 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số: 16/2022/HS-ST, ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 năm tù tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 năm tù tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 và khoản 2 Điều 267 Bộ luật hình sự 1999, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 10 năm tù; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Đinh Đức D1- Văn phòng Luật sư Kết nối thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
* Bị hại:
Chị Nguyễn Thị Phúc H1, sinh năm 1972; nơi ĐKHKTT: Số A đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: Căn hộ A, tầng A, Chung cư H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt;
Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1953; nơi ĐKHKTT: khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; chỗ ở: khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phần Thủ tục bắt đầu phiên toà, vắng mặt khi tranh tụng và tuyên án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị D là nhân viên Phòng Kế toán - Tài chính của Công ty Cổ phần Đ (viết tắt là Công ty Đ) biết một số dự án chung cư tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, nên nói chuyện với chị Nguyễn Thị Phúc H1 về việc D có thể mua được chung cư với giá ưu đãi khoảng 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng/01căn. Chị H1 đã đưa cho D 150.000.000 đồng để đặt cọc mua hộ 03 căn hộ chung cư, mỗi căn chung cư là 50.000.000 đồng. Việc D và chị H1 đặt cọc tiền mua chung cư như nêu trên không có sổ sách, giấy tờ ghi chép. Sau khi nhận tiền của chị H1, D không mua được căn chung cư nào, nên hỏi vay chị H1 số tiền 150.000.000 đồng trên và chị H1 đồng ý.
Ngoài ra trong năm 2011, D đã nhiều lần vay tiền của chị H1, các lần vay tiền có lần D viết giấy vay tiền, có lần không viết giấy vay tiền, nên D không nhớ chính xác được số tiền vay của chị H1 là bao nhiêu. Duệ thừa nhận tổng số tiền vay và tiền đặt cọc mua chung cư là khoảng 500.000.000 đồng, D có trả tiền lãi cho chị H1, nhưng không nhớ trả được bao nhiêu tiền lãi.
Đến hạn trả tiền vay, do không có tiền trả, nên D nói dối với chị H1 là D có lô đất ở số B, khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Duệ gán lô đất số 292 cho chị H1 với giá 425.000.000 đồng và thống nhất trừ vào khoản tiền 500.000.000 đồng mà D nợ chị H1. Số tiền còn lại 75.000.000 đồng, chị H1 đồng ý cho D trả dần. Sau đó D đưa cho chị H1 01 giấy biên nhận có nội dung “Tôi là Phạm Thị D, công tác tại Công ty Đ. Tôi có nhận số tiền là 75.000.000 đồng để đặt cọc vào lô đất 292, dự án K, TP B” và 01 phiếu thu có nội dung: “Công ty Cổ phần Đ thu của chị H1 350 triệu đồng tiền mua lô đất 292”. Phiếu thu đóng dấu Công ty Đ là do D làm giả.
Sau đó, để chị H1 tin, D tìm người để chị H1 bán lô đất 292 và biết được ông Nguyễn Đăng T đang tìm mua đất nên liên hệ bán lô đất 292 cho ông T. Ngày 18/01/2012, D thông báo cho chị H1 mang Phiếu thu 350.000.000 đồng mà D giao cho chị H1 trước đó đến nhà D ở số E, G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để làm thủ tục bán đất cho ông Nguyễn Đăng T.
Tại nhà Phạm Thị D, chị H1 đã giao cho D phiếu thu 350.000.000 đồng mang tên chị H1, D hủy phiếu thu này. Sau đó D giao cho chị H1 01 phiếu thu số 16 đề ngày 17/01/2012 với nội dung: Công ty Đ thu của ông T 350.000.000 đồng, chị H1 ngay sau đó giao lại cho ông T phiếu thu số 16 đề ngày 17/01/2012 (BL 81, 85)
Sau khi thống nhất, ông Nguyễn Đăng T, bà Nguyễn Thị H2 đồng ý mua lô đất số 292, khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh của chị H1 với giá 1.030.000.000 đồng và giao tiền làm nhiều lần cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 18/01/2012, tại nhà của D, ở số E, G, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, ông T và bà H2 giao cho chị H1 400.000.000 đồng, chị H1 viết giấy biên nhận tiền cọc đất với nội dung: “Hôm nay ngày 18/01/2012, tôi Nguyễn Thị Phúc H1, CM:121 596 616, địa chỉ: B, đường T, V, Bắc Ninh có bán cho anh Nguyễn Đăng T, CM: 125 050 586, địa chỉ: K, Bắc Ninh lô đất 292, diện tích 217,5m², lô 2 mặt tiền của Công ty Đ với tổng giá tiền là: 1.030.000.000 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng). Đặt trước là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và anh Nguyễn Đăng T đã nhận một phiếu thu đã đóng cho Công ty nhà 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Số tiền còn lại anh Nguyễn Đăng T hẹn cuối tháng 01/2012 âm lịch thanh toán nốt và nhận nốt giấy xác nhận chuyển đổi hồ sơ”.
Lý do ông T giao 400.000.000 đồng vào ngày 18/01/2012, nhưng trong phiếu thu đề ngày 17/01/2012 và ghi Công ty nhà Bắc Ninh thu của ông T 350.000.000 đồng, là do ông T không để ý. D khai Duệ copy mẫu phiếu thu trong máy tính, nhưng Duệ quên không chỉnh sửa ngày 17/01/2012 thành 18/01/2012 và 350.000.000 đồng thành 400.000.000 đồng.
- Lần thứ hai: Để có căn cứ cho chị H1 tiếp tục nhận tiền của ông T, D đã làm giả “Giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất” với nội dung: Chị Nguyễn Thị Phúc H1 chuyển nhượng lô đất số 292 sang cho ông Nguyễn Đăng T. Sau đó D giao giấy xác nhận trên cho chị H1 và D nói dối chị H1 là đầu tháng 3/2012, Công ty Đ thu tiền đất đợt hai là 300.000.000 đồng. Ngày 02/3/2012, D đi cùng chị H1 đến nhà ông T ở thôn T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, ông T và bà H2 giao cho chị H1 300.000.000 đồng, chị H1 viết giấy nhận tiền đề ngày 02/3/2012 với nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Thị Phúc H1, có nhận của chị H2 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) tiền đất đợt II và đã bàn giao Giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất cho anh Nguyễn Đăng T và chị H2”. Sau đó chị H1 giao cho ông T “Giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất”, đề ngày 17/01/2012 (BL 82, 86).
- Lần thứ ba: Khoảng đầu tháng 4/2012, chị H1 yêu cầu D hoàn thiện hồ sơ đất, D nói dối chị H1 là đầu tháng 4/2012, Công ty Đ tiếp tục thu 50.000.000 đồng tiền đất đợt ba. Ngày 05/4/2012, ông T và bà H2 giao cho chị H1 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), chị H1 viết giấy biên nhận với nội dung: “Hôm nay ngày 05/4/2012 dương lịch, Nguyễn Thị Phúc H1, có nhận 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền đất đợt III của chị H2. Tổng ba lần vợ chồng anh chị Tin, H2 đã trả là 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).” (BL 82)
Tổng cộng chị H1 nhận của ông T và bà H2 750.000.000 đồng tiền bán lô đất số 292, khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi giao cho chị H1 750.000.000 đồng, ông Tin yêu c chị H1 hoàn thiện thủ tục để bàn giao lô đất số 292, nhưng chị H1 không bàn giao được lô đất số 292 cho ông T.
Qua tìm hiểu ông T biết lô đất số 292 không phải của chị H1, lô đất số 292 là của vợ chồng ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1939 và bà Phùng Thị T1, sinh năm 1940, trú tại: xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh đã mua và đang sở hữu.
Ngày 02/6/2016, ông T làm đơn gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC02) tố cáo chị H1 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
* Về hành vi làm giả phiếu thu 350.000.000 đồng và giấy xác nhận chuyển nhượng lô đất 292, khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh :
- Đối với phiếu thu: Do là nhân viên phòng Kế toán - Tài chính của Công ty Đ, trong máy vi tính tại phòng Duệ làm việc có sẵn mẫu phiếu thu, nên Duệ đánh máy điền nội dung ông T nộp số tiền 350.000.000 đồng mua lô đất số 292 Khả Lễ 2 rồi in phiếu thu. Phòng làm việc của D có nhiều văn bản, tài liệu có chữ ký của ông Nguyễn Đắc H3 (Thủ trưởng đơn vị), chị Nguyễn Thị Quỳnh A (Kế toán trưởng), chị Mai Thị T2 (Thủ quỹ) và chữ ký của D (người lập phiếu). Duệ đến Phòng Hành chính của Công ty phôtô các chữ ký của ông H3, chị Quỳnh A, chị T2 và D thành một bản khác và cắt chữ ký của những người này dán vào các mục tương ứng với chức vụ của họ ở phiếu thu giả do D đánh máy tên của ông T. Sau đó, D phôtô phiếu thu có dán các chữ ký của ông H3, chị Quỳnh A, chị T2 và D thành một bản mới có chữ ký phôtô của ông H3, chị Quỳnh A, chị T2 và D. Sau khi đã hoàn thành phiếu thu giả có đầy đủ chữ ký theo mẫu phiếu thu, D đã kẹp tờ phiếu thu D làm giả cho ông T lẫn vào tập hồ sơ tài liệu thanh toán rồi mang đến Phòng Hành chính Công ty đưa cho bộ phận giữ dấu đóng dấu. Bộ phận đóng dấu không kiểm tra kỹ nội dung, nên đã đóng dấu đỏ của Công ty Đ và dấu chức danh của ông H3 vào các tài liệu có chữ ký tại mục Thủ trưởng đơn vị.
- Làm giả giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất: Duệ mở máy tính tại Phòng kế toán của Công ty Đ, vào mục mẫu giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất có sẵn và chỉnh sửa nội dung thể hiện Lô đất 292 mang tên chị Nguyễn Thị Phúc H1 chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Đăng T, D cũng phôtô chữ ký, đóng dấu đỏ của Công ty và dấu chức danh của ông H3 như làm phiếu thu.
Việc Phạm Thị D sử dụng máy tính để làm giả phiếu thu và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất do một mình D thực hiện, không ai biết, sau đó đưa cho chị H1 để chị H1 giao cho ông T. Chị H1, ông T và bà H2 đều tin là thật, không phát hiện việc D làm giả.
* Tiến hành xác minh tại Công ty Đ xác định:
- Năm 2005, Công ty Đ thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở tại khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2012, Công ty bán các lô đất, người mua đăng ký phải nộp tiền theo nhiều đợt do Công ty quy định, đợt đầu thu tiền, Công ty giao cho người mua phiếu thu tiền theo mẫu của Công ty và Hợp đồng mua bán. Phiếu thu và Hợp đồng mua bán đều được ký sống và đóng dấu đỏ hình tròn của Công ty. Lô đất số 292, khu K, Võ C, thành phố B nằm trong dự án và thuộc quyền sở hữu của Công ty Đ.
Ngày 23/4/2014, Công ty Đ đã bán lô đất số 292 cho vợ chồng ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1939 và bà Phùng Thị T1, sinh năm 1940, trú tại: xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Ông Nguyễn Đăng T và chị Nguyễn Thị Phúc H1 không mua lô đất nào trong dự án nhà ở khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Ông B và bà T1 đều khẳng định gia đình mua lô đất số 292 khu K, Võ C, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh hiện đang quản lý và sử dụng, không bán lô đất số 292 cho Phạm Thị D và Nguyễn Thị Phúc H1.
Ông Nguyễn Đắc H3, sinh năm 1951 - Nguyên Tổng Giám đốc Công ty Đ cho biết: Trong thời gian làm Tổng giám đốc Công ty nhà Bắc Ninh, ông H3 không giao cho D bán đất của Công ty; Hình dấu tròn màu đỏ trong Phiếu thu số 16 đề ngày 17/01/2012 và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất đề ngày 17/01/2012, do ông T giao nộp cho Cơ quan điều tra là dấu hợp pháp của Công ty Đ; Chữ ký dưới mục Thủ trưởng đơn vị là chữ ký của ông Nguyễn Đắc H3, nhưng là chữ ký phôtô, ông H3 không ký vào trong giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất và phiếu thu số 16 đề ngày 17/01/2012.
Bà Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1969 - Nguyên Kế toán trưởng, hiện là Phó Tổng Giám đốc Công ty Đ cho biết: Bà không ký vào phiếu thu số 16 đề ngày 17/01/2012, chữ ký ở mục kế toán trong phiếu thu số 16 là chữ ký phôtô của bà Nguyễn Thị Quỳnh A, nên phiếu thu số 16 ngày 17/01/2012 là giả.
Bà Mai Thị T2, sinh năm 1961 - Nguyên Thủ quỹ của Công ty Đ cho biết: Không ký xác nhận ở mục thủ quỹ trong phiếu số 16 thu đề ngày 17/01/2012.
Tại Bản kết luận giám định số: 53/PC54 ngày 08/8/2016, Phòng K Công an tỉnh B (BL 11), kết luận:
- - Hình dấu tròn có nội dung “Công ty cổ phần Đ" trên phiếu thu và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất là con dấu của Công ty cổ phần Đ.
- - Dấu chức danh có nội dung “Tổng giám đốc Nguyễn Đắc H3" trên phiếu thu và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất là dấu chức danh của Tổng giám đốc Nguyễn Đắc H3.
- - Chữ ký ở mục thủ trưởng đơn vị đứng tên Nguyễn Đắc H3 và chữ ký ở mục kế toán trưởng, thủ quỹ trên phiếu thu và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất là dạng chữ ký sao in bằng phương pháp photocopy.
Đối với các mẫu chữ ký trên các phiếu thu và giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất, thì Phòng K không tiến hành giám định vì là chữ ký phôtô.
- Chữ viết, chữ ký đứng tên Phạm Thị D trên các giấy biên nhận vay tiền, giấy hẹn nhận nợ và giấy nhận tiền đặt cọc đất là chữ viết, chữ ký của Phạm Thị D."
* Về trách nhiệm dân sự: Ông T và bà H2 yêu cầu chị Nguyễn Thị Phúc H1 phải trả lại số tiền 750.000.000 đồng. Chị H1 yêu cầu D phải trả 515.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 152/CT-VKS-P1 ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Phạm Thị D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật dân sự: Buộc Phạm Thị D phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Phúc H1 số tiền là 425.000.000đồng.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54, Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: Phạm Thị D 10 (Mười) năm tù; tổng hợp với 10 năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2022/HS-ST ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh buộc bị cáo Phạm Thị D phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 20 (Hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2022, được trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh từ ngày 10/9/2014 đến ngày 21/01/2021.
Buộc chị Nguyễn Thị Phúc H1 phải hoàn trả ông Nguyễn Đăng T số tiền 750.000.000đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/5/2024, bị hại là ông Nguyễn Đăng T kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm vìi cho rằng Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm là chị Nguyễn Thị Phúc H1.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Đăng T có mặt tại phần thủ tục bắt đầu phiên toà nhưng sau đó xin hoãn phiên toà vì cho rằng sức khoẻ của ông không bảo đảm để tham dự phiên toà, sau đó lại cho rằng cần hoãn phiên toà để mời luật sư và tự bỏ về. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nêu và đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không chấp nhận kháng cáo của người bị hại là ông Nguyễn Đăng T. Luật sư Đinh Đức D1 đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án và không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà phúc thẩm trình bày quan điểm giải quyết vụ án: ông Nguyễn Đăng T có mặt tại phiên toà và xin hoãn vì lý do sức khoẻ nhưng không xuất trình được bệnh án chứng minh, sau đó ông T lại đề nghị hoãn phiên toà để mời luật sư nhưng đây không phải là căn cứ để hoãn phiên toà, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng T, giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 16/4/2024 Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 01/5/2024, ông Nguyễn Đăng T kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Ông Nguyễn Đăng T có mặt tại phần Thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm nhưng vắng mặt tại Phần tranh tụng và Tuyên án. Tại phiên toà phúc thẩm, ông T có mặt nhưng lại đề nghị hoãn phiên toà vì lý do sức khoẻ, sau đó lại xin hoãn vì lý do cần mời luật sư. Sau khi nghe ý kiến của bị cáo, Luật sư, Đại diện Viện kiểm sát và xét thấy tình hình thực tế không có căn cứ cho rằng ông T không đủ sức khoẻ tham gia phiên toà như lời trình bày của ông T và lý do ông T cần thời gian để mời Luật sư bào chữa không phải là căn cứ để hoãn phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án là đúng quy định tại Điều 351, 352 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị D thừa nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Do vay nợ chị Nguyễn Thị Phúc H1 số tiền 500.000.000 đồng và không có tiền trả nợ, nên D đưa ra thông tin gian dối về việc D được Công ty giao cho bán lô đất số 292 khu K, Võ C, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và D gán lô đất này cho chị H1 với giá 425.00.000 đồng, trừ vào số tiền nợ 500.000.000 đồng D đã vay của chị H1. Sau đó, chị H1 bán lại lô đất số 292 cho ông Nguyễn Đăng T và bà Nguyễn Thị H2 với giá 1.030.000.000 đồng, ông T và bà H2 đã giao số tiền 750.000.000 đồng cho chị H1.
[4] Việc chị H1 bán đất cho ông T, bà H2 là do D sắp đặt và chính D là người tạo dựng hồ sơ giả để ông T, bà H2 tin tưởng chị H1 là chủ sử dụng lô đất và đủ tư cách pháp lý bán lô đất này, nên ông T bà H2 đã giao tiền cho chị H1. Mọi giao dịch mua bán giữa chị H1 và ông T, bà H2 đều có Duệ tham gia. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định cả chị H1, ông T, bà H2 đều là người bị hại và kết án Phạm Thị D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Bị cáo Phạm Thị D cũng không kháng cáo về nội dung này.
[5] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Đăng T cho rằng chị Nguyễn Thị Phúc H1 đồng phạm với Phạm Thị D, Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm đối với chị H1, Hội đồng xét xử nhận thấy: căn cứ vào lời khai của chính bị cáo Phạm Thị D và lời khai của chị H1 thì Phạm Thị D đã lừa dối chị H1, đưa giấy tờ giả, làm cho chị H1 đã tin là mình được mua và là chủ sử dụng lô đất 292 nên đã bán lô đất này cho ông T và bà H2. Khi chị H1 bán lô đất cho ông T, bà H2 thì chị H1 không biết lô đất đó không thuộc quyền sử dụng của mình, chị H1 không có sự gian dối với ông T, bà H2. Chính bị cáo D thừa nhận: “Sự việc tôi làm giả các phiếu thu và Giấy xác nhận do 01 mình tôi thực hiện và cả H1, T, H2 đều tin là thật (BL 154)... Mục đích giao đất cho chị H1 không phải là để trừ vào số tiền đang nợ chị H1 mà để lừa chị H1 bán lô đất này, như vậy chị H1 cũng là người bị tôi lừa dối và chị H1 hoàn toàn không biết tôi làm giả giấy tờ, chị H1 ko biết đất tôi giao cho chị H1 ko phải là đất của tôi .. (BL 183)”. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Phạm Thị D khẳng định chị Nguyễn Thị Phúc H1 cũng là bị hại trong vụ án, chị H1 cũng bị bị cáo lừa dối, nên không có căn cứ xác định chị H1 đồng phạm với D. Hành vi của chị H1 không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[6] Đối với việc chị Nguyễn Thị Phúc H1 cho rằng sau khi nhận 750.000.000 đồng từ ông Nguyễn Đăng T, bà Nguyễn Thị H2 thì chị H1 đã đưa cho Phạm Thị D nhưng chị H1 không cung cấp được căn cứ chứng minh; bị cáo D không thừa nhận việc nhận 750.000.000 đồng nêu trên; ông T và bà H2 chỉ xác định đưa tiền cho chị H1 nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị H1 phải trả lại ông T bà H2 750.000.000 đồng là có căn cứ.
[7] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên toà là có căn cứ, không chấp nhận kháng cáo của bị hại là ông Nguyễn Đăng T.
[8] Về án phí: Ông Nguyễn Đăng T kháng cáo vì cho rằng Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, nên mặc dù kháng cáo không được chấp nhận nhưng theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông T cũng không thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đăng T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí: ông Nguyễn Đăng T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đặng Văn Hưng |
Ong Thân Thắng |
Trần Thị Quỳnh |
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trần Thị Quỳnh |
Nơi nhận:
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - TAND tỉnh Bắc Ninh;
- - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- - Công an tỉnh Bắc Ninh;
- - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
- - Trại giam Ngọc Lý- Bộ Công an;
- - Bị cáo (qua trại);
- - Bị hại Nguyễn Đăng Tin (theo địa chỉ);
- - Lưu: VP, HS.
TIỂU HỒ SƠ
Kế hoạch hỏi
Hỏi D2:
- Gán đất cho H1 là gán hẳn trừ nợ, hay gán để làm tin?
- Cụ thể thỏa thuận về việc gán đất lô 292 như thế nào?
- Ai là người tìm người mua lô đất 292?
- Duệ gặp ông T xong gọi cho H1 hay H1 gặp ông T rồi gọi cho D2?
- Ai là người dẫn ông T đi xem lô đất?
- Tại sao lô đất 292 đã gán cho H1 rồi nhưng D2 lại vẫn tìm người để bán?
- Có nhận tiền bán đất cho ông T từ Hường ko?
- Tại sao là gán tạm thời cho H1, số tiền bán đất đã nhận 750 triệu, nhiều hơn số tiền Duệ nợ mà ko nhận lại số tiền thừa
Hỏi H1:
- Ai là người được ông T bà H2 liên hệ mua đất? Duệ hay chị H1?
- Hường tìm được ông T bà H2 mua đất hay Duệ là người tìm được ông T bà H2 mua đất?
- Tại sao bà H2 lại khai chỉ biết Duệ khi mua bán đất với H1.
- Giá đất lô 292 là bao nhiêu?
- Tại sao lúc khai 225 triệu? lúc lại khai 425 triệu? Giá nào là đúng?
- Tại sao chị D2 còn nợ chị 425 triệu mà khi nhận tiền 750 triệu của ông T chị không giữ lai 425 triệu, sao lại đưa hết cho D2?
Hỏi ông T:
- Ông liên hệ với ai để mua đất? Duệ hay chị H1?
- Ai là người dẫn ông T đi xem đất?
- Ai giới thiệu chị H1 là chủ đất?
- Tại sao H1 khai D2 gọi H1 đến nhà D2 để bán đất thì mới gặp ông T ở nhà D, BL 90?
- Vậy lần giao tiền đầu tiên là ở đâu? Ông gặp D2 trước hay gặp H1 trước?
Hành vi làm giả năm 2011-4/2012, tội phạm nghiêm trọng, thời hiệu truy cứu là 10 năm. Ngày 30/12/2022, CQĐT xác định là hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội này là đúng quy định tại Điều 23 BLHS 1999 và Điều 27 BLHS 2015.
Ngày 21/01/2021, VKSND tỉnh Bắc Ninh đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh do bệnh đã thuyên giảm
Ngày 20/01/2022, xử D2 về hành vi lừa đảo đối với các cá nhân khác (vụ án khác), bl 70
Ngày 30/12/2022, CQCSĐT khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với D2 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (19, 34). Ngày 11/8/2023 thay đổi QĐ khởi tố là KT tội “lừa đảo..” (62.63)
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Duệ khai nợ tiền chị H4 nên gán đất nhưng là gán tạm thời, khi nào bán được lô đất sẽ trả. H1 khai giống D2, 284-285
H1 nhận tiền từ ông T nhưng không đưa lại cho bị cáo D2. Bl 284. Η1 khai là có đưa lại D2 vì D2 nói phải nộp tiền vào Công ty mới làm tiếp giấy tờ cho ông T được. 285.
Bà H2 khai lần cuối ông T bà H2 đưa tiền cho H1 50 triệu là H1 đi 1 mình.
- Tại bản kết luận GĐ pháp y tâm thần số 38/TT-KGĐ ngày 08/5/2014, TTGĐ pháp y tâm thần tỉnh Bắc Ninh kết luận: trước khi bị tai nạn giao thông ngày 09/5/2012, Phạm Thị D không mắc bệnh tâm thần, còn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại Duệ mắc bệnh tâm thần, hội chứng sau chấn động não, mã bệnh F07.2. Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bl 30-35.
- Ngày 06-9-2017, VKSND tỉnh Bắc Ninh ra QĐ số 01/QĐ-VKS-P1 áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Phạm Thị D, bl 37
- Ngày 23/4/2014, Công ty Đ ký Hợp đồng 02/2014/-KL2 bán lô đất 292 cho ông Nguyễn Hữu B và bà Phùng Thị T1, bl 44.
Ông T:
Khẳng định chị H1 có dẫn đi xem đất, và giao tiền cho chị H1, còn biết D qua chị H1. Chị H1 cũng ko quen mà do L giới thiệu có biết chị H1 bán đất, bl 76.
Phiếu thu số 16 ngày 17/01/2012 và Giấy xác nhận chuyển nhượng hồ sơ đất là do H1 giao ông T, ông T ko đọc kỹ nên ko để ý Phiếu thu 16 sai ngày 18 thành 17 và số tiền là 400 thì ghi thành 350 triệu; Giấy xác nhận có một số nội dung mâu thuẫn, ko chính xác, bl 115.
Trong suốt quá trình giao dịch thì D có tham gia nhưng mọi việc thỏa thuận là với H1 vì H1 là chủ đất.
Sau khi thỏa thuận giá với H1 tại nhà D xong thì cả H1 và D dẫn ông T đi xem đất.
Giao tiền cho H1.
Có mua 01 lô đất khác của D, đã trả 450 triệu. Duệ có viết giấy bán nhưng đã làm thất lạc, sau này mới biết lô đất trên cũng ko phải của D. Ông T không tố giác Duệ về việc này.
Bà H2:
ko biết D, chỉ biết D khi D đi cùng H1 bán đất. Do L giới thiệu. Lần đầu gặp là gặp cả 2 người Duệ Hường cùng lúc tại nhà D. Lai giới thiệu H1 là chủ đất và H1 đòi giá 1.080.000.000 đồng, ông T trả giá và hai bên thỏa thuận là 1.30.000.000. Lần thứ 3 là 01 mình H1 nhận 50 triệu (BL106). Cả 3 lần H1 đều là người nhận tiền.
Khi mua bán với H1, D biết số điện thoại của ông T nên D còn liên hệ bán cho ông T 01 lô đất nữa giá 450 triệu, nhưng lô đất đó cũng ko phải của D, nhưng trong vụ án này chỉ yêu cầu xử lý H1 về lô đất 292.
Chị H1:
lời khai ngày 10/6/2016, BL 89-92, ngay sau khi ông T tố cáo 8 ngày, khẳng định có mua bán lô đất 292 với ông T và đó là đất của H1, có cùng D dẫn ông T bà H2 đi xem đất, bl 89. Hường khẳng định lô đất 292 là của H1 mua của D và H1 đã bán cho ông T.
Lời khai ngày 24/12/2022 thì H1 lại khai D là người giới thiệu ông T bà H2 mua đất của D, D là người dẫn đi xem đất và thỏa thuận giá cả (BL 91). H1 khai tiền ông T bà H2 đưa cho D nộp về công ty, H1 ko được cầm. Việc gán đất chỉ là hình thức để Hường tin chứ Hường ko được sở hữu đất và D nói khi nào bán được đất thì D sẽ trả Hường 225 triệu, còn 140 triệu thì D trả dần cho H1 hoặc nộp vào tiền mua chung cư, vì vậy 750 triệu tiền bán đất vẫn do Duệ giữ. Về số tiền D nợ thì chỉ có 3 giấy (02 giấy 100, 01 giấy 75 triệu, còn lại không có giấy tờ gì khác chứng minh, chỉ là theo trí nhớ của H1, bl 93)
Ngày 21/9/2016, H1 đến CQĐT giao nộp 100 triệu trả ông T (BL 99, 111) và khai là tiền 750 triệu đã đưa D nên không có tiền trả hết một lần cho ông T, hứa sẽ trả dần. Ngày 23/9/2016, chị H1 đến xin lại số tiền 100 triệu này, bl 113-114
- Giấy vay tiền 26/8/2011, bl 108, Duệ vay Hường 100 triệu;
- Giấy hẹn nợ ngày 01/10 ko ghi năm, bl 109: Duệ hẹn Hường sau 05 ngày trả nợ 100 triệu
- Giấy biên nhận ko ghi ngày, bl 110 thể hiện Duệ nhận của H1 75 triệu tiền cọc mua lô đất 292
Duệ: 145-195
D khai như án, trừ nội dung H1 là người tìm được ông T là người mua đất. Theo lời D khai thì khi bán đất cho ông T thì chị H1 vẫn tin là có đất thật. Sự việc D làm giả các phiếu thu và G xác nhận do 01 mình Duệ thực hiện và cả H1, T, H2 đều tin là thật (154).
Duệ khai sự việc Duệ gán đất cho chị H1 chỉ là hình thức, để chị H1 bán chứ ko phải để chị H1 sở hữu lô đất này. Mục đích giao đất cho chị H1 không phải là để trừ vào số tiền đang nợ chị H1 mà để D lừa chị H1 bán lô đất này, như vậy chị H1 cũng là người bị tôi lừa dối và chị H1 hoàn toàn không biết tôi làm giả giấy tờ, chị H1 ko biết đất tôi giao cho chị H1 ko phải là đất của tôi .. BL 183 (lk 09/8/2023)
Ông B, bà T1:
Ngày 23/4/2014 ông B bà T1 mới mua lô đất 292 của Công ty Đ, bl 132-134
Đối chất Duệ- Hường, ngày 11/4/2023, bl 135
Hường trình bày đặt cho H5 150 triệu mua 03 căn chung cư và cho D vay 365 triệu, tổng 515 triệu. Duệ thừa nhận có nhận tiền của H1 để mua chung cư hộ và có vay của H1, nhưng ko nhớ chính xác là bao nhiêu tiền, chỉ nhớ khoảng 500 triệu.
Duệ nói tiền gửi mua chung cư, D ko mua được nên hỏi vay Hường số tiền này và H1 đồng ý. Hường phủ nhận việc đồng ý cho D vay.
Duệ và H1 đều thống nhất việc D gán lô đất 292 cho H1 là đúng. Lý do gán đất, là H1 đòi tiền D, D nói D có lô đất 292 và giao lô đất trên cho H1 đi bán, sau khi bán đất thì D sẽ lấy tiền trả nợ cho H1.
Duệ là người tìm mua đất và biết được ông T có nhu cầu mua.
H1 khai là sau khi bán đất sẽ trả Hường 225 triệu trong tổng số 365 triệu tiền vay nhưng D khai là trả 425/500 triệu nợ. Số 75 triệu còn lại H1 cho D nợ trả dần.
Duệ khai đã viết 02 giấy: 01 giấy cọc 75 triệu và 01 phiếu thu 350 triệu. Sau đó D đã hủy phiếu 350 triệu.
H1 khai Duệ giao dịch hết. D khai D chỉ là người tìm người mua đất còn H1 đứng ra thỏa thuận, giao dịch.
H1 khai D nhận tiền. Duệ khẳng định H1 nhận và ko đưa lại cho D. Lý do hứa trả nợ có 425 triệu nhưng H cầm cả 750 triệu vì đợi H lấy đủ 1.030.000.000 đồng thì D lấy 01 thể nhưng sau đó D bị tai nạn và đến nay H chưa đưa lại.
Đối chất Tin- Hường, 22/8/2023, 139
Khẳng định gặp H1 thỏa thuận mua bán đất là tại nhà D. Ông T khẳng định cả H1 và D dẫn ông T đi xem đất ngay ngày 18/01/2012. Ông T khẳng định tiền giao cho H1, ko phải giao cho D.
Đối chất H2- Hường, 22/8/2023, 142
Bà H2 khai như ông T khai.
Bản án số 590/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 590/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
