|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 590/2024/DS-PT Ngày: 04-12-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 485/2024/TLPT-DS, ngày 16-10-2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 206/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 627/2024/QĐ-PT, ngày 12 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 170/2024/QĐ-PT, ngày 27 tháng 11 năm 2024; giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/02/2023); có mặt.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị Kiều D, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 25-11-2024); có mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Nguyễn Thị D1, sinh năm 1940; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị L2, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bà L2: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố D, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 03/02/2023); có mặt
- Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Quỹ tín dụng nhân dân T, địa chỉ: đường G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Phan Thị Kim T – Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân T.
Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Quốc D2 – Tổ trưởng tín dụng (văn bản ủy quyền ngày 12/4/2024); vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thành P là bị đơn; bà Nguyễn Thị Cẩm H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Cha mẹ ông Nguyễn Văn L là cụ Nguyễn Văn N (mất năm 2014) và cụ Nguyễn Thị D1 (hiện còn sống) chung sống với nhau có 11 người con, gồm:
-
Bà Nguyễn Thị L3 (mất năm 2020) có chồng là ông Nguyễn Văn R và 06 người con là Nguyễn Thị L4, Nguyễn Thị P1, Nguyễn Thị Thu T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn L5, Nguyễn Văn T3 (mất năm 2020). Anh T3 có vợ là chị L6 và 02 người con là Nguyễn Thị Trúc L7, Nguyễn Thị Mỹ T4;
- Bà Nguyễn Thị H1;
- Bà Nguyễn Thị N1;
- Ông Nguyễn Văn T5;
- Ông Nguyễn Văn H2;
- Ông Nguyễn Văn D3;
-
Bà Nguyễn Thị Tuyết N2 (mất năm 2014) có chồng là ông Nguyễn Văn D3 và 02 người con là Nguyễn Tấn L8 và Nguyễn Thị Tuyết N3;
- Ông Nguyễn Tấn T6;
- Ông Nguyễn Thành P;
- Ông Nguyễn Văn L;
- Bà Nguyễn Thị V.
Năm 1976 vợ chồng cụ N khai phá một phần đất tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 07/3/1994, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ N đứng tên diện tích 19.870 m² thửa số 250, 517, 520, 521, 522, 525, 526, 527, 528, tờ bản đồ số 06. Hai cụ sử dụng đất đến năm 2003 thì tiến hành chia đất cho các người con trong phần diện tích đất này. Ông L không tranh chấp diện tích đất này.
Ngoài ra, cụ N và cụ D1 còn có phần đất diện tích khoảng 55m x dài 40m, trên đất có nhà mà hai cụ sinh sống do lúc làm thủ tục đã kê khai thiếu nên chưa được cấp đất. Vợ chồng cụ N sử dụng đến năm 2014 thì cụ N mất. Cụ D1 vẫn tiếp tục sử dụng cho đến nay. Cụ D1 sinh sống trên phần đất cùng với vợ chồng ông Nguyễn Thành P. Ngoài ra, trên phần đất này còn có vợ chồng ông Nguyễn Văn L sinh sống. Năm 2003 vợ chồng ông L được cha mẹ cho diện tích 827,1 m² để cất nhà ra ở riêng nhưng chưa làm thủ tục đứng tên đất. Đến năm 2011 vợ chồng ông L cất lại nhà khác kiên cố hơn.
Năm 2019, ông P tự ý đi kê khai đăng ký phần diện tích đất của cha mẹ, có luôn cả phần diện tích đất ông L đang sử dụng. Ngày 17/9/2019, ông P được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận diện tích 2.556,2 m² thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55. Đến năm 2023, ông P làm thủ tục cấp đổi giấy đất để vợ chồng ông P và bà H cùng đứng tên mà ông L không biết sự việc.
Ông L cho rằng phần diện tích 827,1 m² đang sử dụng đã được cha mẹ cho vợ chồng vào năm 2003 khi ông cưới vợ. Tuy việc cho đất không có giấy tờ nhưng vợ chồng ông cất nhà ra riêng sinh sống đến nay không ai tranh chấp. Trước khi khởi kiện đến Tòa án ông L có gặp ông P thương lượng nhưng ông P không đồng ý. Nay ông L yêu cầu xác định phần diện tích 827,1 m² là tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của vợ chồng ông. Vợ chồng ông P phải có trách nhiệm tách thửa đất cho ông L phần diện tích 827,1 m², có một phần thổ cư vì ông L đã xây nhà trên đất. Ngoài ra, ông L không tranh chấp diện tích đất nào khác. Đối với chi phí tố tụng yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thành P trình bày:
Về mối quan hệ nhân thân trong gia đình ông thống nhất theo trình bày của ông Nguyễn Văn L.
Về nguồn gốc đất tranh chấp: là do cha mẹ ông khai phá nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2019 ông làm thủ tục kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.556,2 m² thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55. Lý do ông kê khai đăng ký đất của cha mẹ là vì anh ở cùng cha mẹ, phụng dưỡng mẹ. Lúc cha còn sống kêu ông đi kê khai đăng ký, sau khi cha mất thì mẹ cho đất và nói ông đi làm thủ tục. Việc cho đất không có giấy tờ thể hiện. Đến năm 2023, ông cấp đổi giấy đất mới để vợ chồng cùng đứng tên, ông xác định đây là tài sản chung của vợ chồng ông. Cha mẹ không cho ông L mà cho ông toàn bộ diện tích đất này. Ông L đã được chia phần đất khác ở D nhưng đã bán cho người khác.
Về hiện trạng sử dụng: phần diện tích này có ông và ông L đang sử dụng. Vợ chồng ông L cất nhà ở trên đất khoảng 16 năm, ranh hai bên đất có hàng rào gạch dài hết đất do ông xây năm nào không nhớ. Nguyên nhân ông L ở trên đất là vì khi cưới vợ ông L không ở chung gia đình mà cất nhà ra riêng.
Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55 vợ chồng ông hiện đang thế chấp ở Quỹ tín dụng nhân dân T để vay số tiền 100.000.000 đồng.
Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L, xác định toàn bộ diện tích 2.556,2 m² là tài sản của vợ chồng ông. Trước đây nếu ông L qua gặp ông nói chuyện thì ông đã tách phần diện tích ông L sử dụng cho vợ chồng ông L. Giờ đã kiện đến Tòa án thì ông không đồng ý, Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L2 thống nhất theo ý kiến của bà Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Văn L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm H thống nhất theo ý kiến của anh Nguyễn Thành P, không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quỹ tín dụng nhân dân T trình bày: Ông Nguyễn Thành P và bà Nguyễn Thị Cẩm H hiện đang vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân Tân Hưng theo hợp đồng tín dụng số 2338/230987 ngày 19/10/2023 với số tiền 100.000.000 đồng. Thời hạn vay đến ngày 18/10/2024, khi vay thế chấp quyền sử dụng đất thửa số 222 tờ bản đồ số 55 diện tích 2556,2 m² do ông P, bà H đứng tên giấy chứng nhận.
Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được ông P, bà H là đồng sở hữu tài sản ký tên có chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định, do đó nghĩa vụ trả nợ đối với Quỹ tín dụng nhân dân Tân Hưng đảm bảo tính pháp lý. Quỹ tín dụng nhân dân T7 không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng vay vốn nói trên trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất này. Đến hẹn trả nợ, nếu vợ chồng ông P và bà H không thanh toán thì Quỹ tín dụng nhân dân Tân Hưng sẽ xử lý tài sản theo cam kết hợp đồng vay.
Bà Nguyễn Thị D1 vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 206/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 228, 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 461, 463, 469 Bộ luật dân sự 1995; Điều khoản 1 Điều 124, Điều 466, Điều 467 Bộ luật dân sự 2005; Điều 459 Bộ luật dân sự 2015; Điều 152, 236 Luật đất đai 2024 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn L đối với ông Nguyễn Thành P.
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị L2 được quyền sử dụng phần đất diện tích 827,1 m² (trong đó có 120 m² đất ở tại nông thôn và 707,1 m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
- Đông giáp thửa 223 dài 19,9m;
- Tây giáp Đường THu.43 (QH: 20m) dài 20,04m;
- Nam giáp thửa 222 dài 41,04m (3,43m + 10,5m + 27,11m);
- Bắc giáp thửa 452 dài 41,83m.
(Có sơ đồ kèm theo)
Cùng các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 109,2 m² có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền lót gạch men, mái tole, không trần, tường mặt trong không tô xây dựng năm 2011; 03 mái che có kết cấu mái tole, kèo gỗ tạp + sắt, cột sắt; 02 cây mai trồng năm 2020, 02 cây mít trồng năm 2023 và 07 bụi tre.
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị L2 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19-9-2024, bị đơn ông Nguyễn Thành P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P và bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Trong phần tranh luận, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bà Lê Thị Kiều D trình bày:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cho rằng cụ D1 hiện tại tinh thần không còn minh mẫn, sáng suốt; nhưng trong hồ sơ tại cấp sơ thẩm có đơn xin xét xử vắng mặt của cụ D1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp.
Về nội dung: Giữ nguyên yêu cầu theo đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị L1 trình bày:
Ông Nguyễn Văn L đã được cha mẹ cho đất cất nhà ở từ năm 2003, ông L cất nhà, sửa chữa nhà 02 lần nhưng cha mẹ và tất cả anh chị em, kể cả ông P đều không phản đối hay tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thành P và bà Nguyễn Thị Cẩm H. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị xem xét Đơn xin xét xử vắng mặt của cụ D1, vì cụ D1 không còn minh mẫn, sáng suốt; thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ D1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và qua làm việc các bên đương sự đều xác nhận thực tế hiện nay cụ D1 đã lớn tuổi, sức khỏe không tốt, lúc nhớ lúc quên; nên Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành làm việc với cụ D1. Hơn nữa trước đây, khi còn mạnh khỏe, tinh thần minh mẫn, sáng suốt thì cụ D1 cũng không có ý kiến tranh chấp đối với quyền sử dụng đất hiện do ông P đứng tên. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự cũng không có ý kiến hay yêu cầu tuyên bố cụ D1 mất năng lực hành vi dân sự. Dó đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với đơn xin vắng mặt của cụ D1.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19-9-2024, bị đơn ông Nguyễn Thành P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm H có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của ông P, bà H trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm H; Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả đo đạc, định giá; thể hiện:
Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số: CN16795 do Chi nhánh Văn phòng Đ cấp ngày 19/7/2023 cho ông Nguyễn Thành P và bà Nguyễn Thị Cẩm H đứng tên. Diện tích tranh chấp là 827,1 m² trong tổng diện tích đất đo đạc thực tế là 2.556,2 m². Đất có giá 45.000.000 đồng/m ngang x dài hết đất.
Tài sản trên phần đất tranh chấp gồm có: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 109,2 m² có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền lót gạch men, mái tole, không trần, tường mặt trong không tô xây dựng năm 2011; 03 mái che có kết cấu mái tole, kèo gỗ tạp + sắt, cột sắt; 02 cây mai trồng năm 2020, 02 cây mít trồng năm 2023 và 07 bụi tre. Các tài sản trên các bên xác định là tài sản của ông L, không ai tranh chấp.
Đối với tài sản trên phần diện tích đất còn lại, các bên cũng không tranh chấp.
[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông L và ông P đều xác định đất có nguồn gốc do cha mẹ là cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị D1 khai phá và xây nhà ở trên đất cùng các con nhưng chưa làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ. Trên đất có nhà của cụ N, cụ D1 hiện tại vợ chồng ông P đang ở và có căn nhà cấp 4 của vợ chồng ông L đang ở và quản lý từ năm 2003 trên diện tích đất 827,1 m².
[3.3] Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T (tại bút lục số 207) xác định: Thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55 do cụ Nguyễn Văn N và cụ Nguyễn Thị D1 kê khai đăng ký. Sau khi cụ N mất thì năm 2019, ông P đi kê khai đăng ký lần đầu và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07820 ngày 17/9/2019. Đến năm 2023, ông P làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ để vợ chồng ông P, bà H cùng đứng tên quyền sử dụng đất.
[3.4] Qua xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P, thể hiện: Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông P vào năm 2019 kê khai đất có nguồn gốc được cha mẹ tặng cho, nhưng trong hồ sơ không có giấy tờ thể hiện cụ N, cụ D1 tặng cho đất ông P và cũng không có ý kiến của cụ D1 về việc cho đất. (Hiện tại cụ D1 do tuổi già, trí nhớ kém nên Tòa án cấp sơ thẩm không thể làm việc để xác định việc tặng cho đất theo lời trình bày của ông L và ông P). Khi cấp GCNQSDĐ cho ông P, cơ quan có thẩm quyền đã không xem xét đến hiện trạng nhà ở và diện tích đất do ông L quản lý, sử dụng từ năm 2003.
[3.5] Trên thực tế, diện tích đất 827,1 m² vợ chồng ông L đang quản lý, sử dụng; xây nhà ở từ năm 2003; khi cụ N còn sống và cụ D1 cũng không có ý kiến phản đối. Phần đất của ông L nằm trong tổng diện tích đất 2.556,2 m² do ông P đứng tên GCNQSDĐ; nhưng đã có ranh đất rõ ràng bằng hàng rào xây gạch tồn tại giữa hai phần đất. Quá trình ông L sử dụng đất, cất nhà kiên cố trên đất thì tất cả các anh, chị, em của ông L, ông P đều biết, nhưng không có ai tranh chấp hay phản đối. Tuy ông L không có chứng cứ bằng văn bản về việc cha mẹ tặng cho đất, nhưng việc sử dụng đất của ông L là liên tục trên 20 năm, công khai, ổn định và không ai tranh chấp. Như vậy có cơ sở cho thấy ông L đã được cha mẹ tặng cho đất bằng lời nói và hành vi; phù hợp với quy định của pháp luật dân sự.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn L đối với ông Nguyễn Thành P là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành P và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông P và bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thành P.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 206/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 228, 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 461, 463, 469 Bộ luật dân sự 1995; Điều khoản 1 Điều 124, Điều 466, Điều 467 Bộ luật dân sự 2005; Điều 459 Bộ luật dân sự 2015; Điều 152, 236 Luật đất đai 2024 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Nguyễn Văn L đối với ông Nguyễn Thành P.
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị L2 được quyền sử dụng phần đất diện tích 827,1 m² (trong đó có 120 m² đất ở tại nông thôn và 707,1 m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 222, tờ bản đồ số 55 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, đất có tứ cận:
- Đông giáp thửa 223 dài 19,9m;
- Tây giáp Đường THu.43 (QH: 20m) dài 20,04m;
- Nam giáp thửa 222 dài 41,04m (3,43m + 10,5m + 27,11m);
- Bắc giáp thửa 452 dài 41,83m.
(Có sơ đồ kèm theo)
Cùng các tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 109,2 m² có kết cấu cột gạch, tường gạch, nền lót gạch men, mái tole, không trần, tường mặt trong không tô xây dựng năm 2011; 03 mái che có kết cấu mái tole, kèo gỗ tạp + sắt, cột sắt; 02 cây mai trồng năm 2020, 02 cây mít trồng năm 2023 và 07 bụi tre.
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị L2 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án của Tòa án để giải quyết, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
-
Đối với khoản vay của Quỹ tín dụng nhân dân xã T: Quỹ tín dụng nhân dân xã T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005742 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Ông Nguyễn Thành P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
-
Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành P phải chịu chi phí đo đạc; xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 15.984.000 đồng (mười lăm triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
Do ông L đã nộp tạm ứng nên ông P có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông L số tiền chi phí tố tụng nêu trên.
-
Về án phí phúc thẩm dân sự: Ông Nguyễn Thành P và bà Nguyễn Thị Cẩm H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí ông P đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006590 và bà H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006589 cùng ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ông P, bà H đã nộp xong án phí phúc thẩm.
-
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 590/2024/DS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 590/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
