TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
- Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ ngày 14/5/2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐST – HNGĐ ngày 28/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QĐST – HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Đăng Đ, sinh năm 1984
Địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ C, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Trịnh Đăng Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị H vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 12/8/2005.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, vợ chồng không hạnh phúc khi chung sống. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà H nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.
- Về con chung: Ông và bà H có 04 con chung là Trịnh Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 22/5/2006; Trịnh Nguyễn Khánh L, sinh ngày 22/4/2010; Trịnh Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/4/2010 và Trịnh Nguyễn Tú U, sinh ngày 01/01/2015. Cháu N đã trưởng thành nên ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Đ có nguyện vọng trực tiếp nuôi 03 cháu L, L1, U đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà: Ông Đ giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện và không bổ sung gì thêm.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn bà Nguyễn Thị H theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên bà H không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thì thấy:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đăng Đ đối với bà Nguyễn Thị H cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Đăng Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
Về con chung: Đối với cháu Trịnh Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 22/5/2006 đã trưởng thành, ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Giao cháu Trịnh Nguyễn Khánh L, sinh ngày 22/4/2010; Trịnh Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/4/2010 và Trịnh Nguyễn Tú U, sinh ngày 01/01/2015 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Đ phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H.
[2]. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở xác định: Ông Trịnh Đăng Đ và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 12/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên quan hệ hôn nhân giữa các bên là hợp pháp.
Xét về quan hệ hôn nhân của ông Đ, bà H: Ông Đ xác định vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được triệu tập tham gia phiên hòa giải để giải quyết mâu thuẫn gia đình nhưng bà H vắng mặt không có lý do và không có động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Đ. Tại phiên tòa ông Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà H.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Đ, bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của ông Đ với bà H.
Về con chung: Ông Đ và bà H có 04 con chung là Trịnh Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 22/5/2006; Trịnh Nguyễn Khánh L, sinh ngày 22/4/2010; Trịnh Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/4/2010 và Trịnh Nguyễn Tú U, sinh ngày 01/01/2015. Đối với cháu N đã trưởng thành, ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông Đ có nguyện vọng trực tiếp nuôi 03 cháu L, L1, U đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Xét nguyện vọng nuôi con của ông Đ thấy: Các cháu L, L1, U đều có nguyện vọng được sống với ông Đ vì ông Đ quan tâm chăm sóc các cháu nhiều hơn bà H. Do đó, xét nguyện vọng của các cháu L, L1, U, đồng thời để các cháu có được sự chăm sóc tốt, ổn định về nơi ở, nơi học tập và sinh hoạt hàng ngày để phát triển bình thường về thể chất và tinh thần thì cần thiết giao các cháu L, L1, U cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của ông Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xem xét.
[3]. Về án phí: Ông Trịnh Đăng Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đăng Đ đối với bà Nguyễn Thị H về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Đăng Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Đối với cháu Trịnh Nguyễn Tuyết N, sinh ngày 22/5/2006 đã trưởng thành, ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Buộc bà Nguyễn Thị H giao cháu Trịnh Nguyễn Khánh L, sinh ngày 22/4/2010; Trịnh Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/4/2010 và Trịnh Nguyễn Tú U, sinh ngày 01/01/2015 cho ông Trịnh Đăng Đ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), bà Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Ông Trịnh Đăng Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003213 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Trịnh Đăng Đ đã nộp đủ án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Phan Thu Hiền |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Trịnh Đăng Đ yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bà Nguyễn Thị H
