Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HSST

Ngày 31/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ- TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Hồng Ánh.

2. Ông Nguyễn Hải Sơn.

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 14 tháng 11 năm 1979 tại C, Phú Thọ.

Nơi cư trú: Khu Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12

Bố đẻ: Nguyễn Văn T, sinh năm 1945, Mẹ đẻ: Đặng Thị H, sinh năm 1947 hiện ở Khu Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ

Vợ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn).

Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2010.

Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại bản án số: 135/2018/HS-ST ngày 25/9/2018, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 08 (tám) tháng tù, án phí 200.000đ về tội Đánh bạc. Q chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2019 và nộp xong án phí vào ngày 21/01/2019. Hiện nay, Q đã được xóa án tích.

Ngày 23/4/2024, ông Nguyễn Văn T là bố đẻ bị cáo Q viết báo cáo đề nghị về việc vợ chồng ông hiện nay đã già yếu không thể quản lý, theo dõi Q do Q nghiện ma tuý, thường xuyên đi khỏi địa phương. Quá trình quản lý công dân Nguyễn Văn Q tại xã Y, huyện C thì chính quyền địa phương báo cáo Q là người nghiện ma tuý, thường xuyên không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì và rất dễ tiếp tục vi phạm pháp luật.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 17/4/2024, áp dụng biện pháp tạm giam ngày 26/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Bà Bùi Thu H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1977.

Trú tại: Khu T, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

2. Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1975.

Trú tại: Khu T, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 16/4/2024, tổ công tác Công an xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ tiến hành đảm bảo anh ninh trật tự tại đoạn đường thuộc khu T, xã H, huyện C đã phát hiện Nguyễn Văn Q sinh ngày 14/11/1979, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu Đ, xã Y, huyện C có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Nguyễn Văn Q đã tự nguyện giao nộp từ trong túi quần phía trước bên trái của Q đang mặc có: 01 (một) gói giấy có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt bên trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng; trong túi xách Q đang đeo trên người có: 04 (bốn) gói giấy có mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. Q khai nhận đây là 05 (năm) gói ma túy (loại heroine) của Q đang cất giữ để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói giấy có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt bên trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng.
  • 04 (bốn) gói giấy có mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc bên trong có chứa chất bột cục màu trắng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen đã cũ, bên trong có lắp 02 sim số thuê bao 0332620309 và 0376180775;
  • 01 (một) túi xách màu nâu có ký hiệu “HOÀNG HÀ DODA” đã cũ.

Công an xã H đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật sau đó chuyển hồ sơ cùng vật chứng và người vi phạm đến Công an huyện C để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 460/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh P giám định đối với: Chất bột cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt bên trong màu trắng và 04 (bốn) gói giấy có hai mặt đều màu trắng bạc thu giữ khi kiểm tra Nguyễn Văn Q có phải ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số: 534/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P ngày 19/04/2024, kết luận: Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 05 (năm) gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 1,471 gam, loại Heroine (H)

(H3) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được qui định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 05/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

H4 lại đối tượng sau giám định: 0,998 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Ngày 17/4/2024, Công an huyện C đã ra quyết định chuyển hồ sơ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 18/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã đề nghị Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Phú Thọ xác định tình trạng sử dụng ma túy của Nguyễn Văn Q. Kết quả: Nguyễn Văn Q dương tính với MOP: Morphin/heroin (thuốc phiện).

Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng hơn 12 giờ ngày 16/4/2024, Nguyễn Văn Q có đem theo số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) đến khu vực Chợ xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh gặp một người đàn ông ở ngoài đường (Q không biết tên tuổi địa chỉ), Q hỏi mua của người đàn ông này 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn đồng) ma túy loại Heroine thì người đàn ông này đồng ý. Q đưa 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn đồng) cho người đàn ông này thì người đàn ông đưa lại cho Q 04 gói có đặc điểm giống nhau là gói giấy đều có hai mặt màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma túy loại Heroine. Q cầm gói ma túy trên ra bắt xe khách để về nhà ở xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ, trên đường đi Q lấy 01 gói ma túy ra và đổ một phần vào giấy bạc (một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc) ở bao thuốc lá có sẵn với mục đích để mang về nhà sử dụng. Q cất 04 gói ma túy trên vào túi giả da đang đeo trên người, còn 01 gói Quý đúc vào túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau đó Q bắt xe khách từ huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để về nhà ở xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Khoảng hơn 16 giờ cùng ngày thì xe đi đến Quốc lộ C thuộc khu T, xã H, huyện C, Q xuống xe khách thì Tổ công tác Công an xã H, huyện C đến kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên.

Quá trình làm việc, Q khai nhận khoảng 12 giờ, ngày 16/4/2024 khi Q đang ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thì có anh Nguyễn Văn C (là bạn của Q), sinh năm 1977, ở Khu T, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ sử dụng số điện thoại 0962.053.xxx gọi vào số điện thoại 0376.180.xxx của Q nhờ mua ma túy (Heroine) hộ cho anh C. Q cũng sử dụng ma túy nên Q đồng ý nhưng bản thân Q không có tiền, yêu cầu C phải chuyển tiền thì mới có tiền mua, vì vậy Q đọc cho C số tài khoản mở tại ngân hàng V (mang tên Nguyễn Văn Q). Hơn 12 giờ thì C gọi điện thoại cho Q số điện thoại trên nói đã chuyển tiền rồi, thấy vậy Q ra cây ATM ngân hàng V1 rút tiền được 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) rồi đi mua ma túy tại khu vực Chợ xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh như đã nêu trên.

Ngày 21/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã triệu tập anh Nguyễn Văn C đến làm việc và đối chất với Nguyễn Văn Q. Anh C giải thích do có mối quan hệ quen biết chơi với Q nên vào ngày 16/4/2024 có liên lạc bằng điện thoại di động nói chuyện với Q hỏi thăm sức khỏe, anh C không thừa nhận việc chuyển tiền và nhờ Q mua ma túy. Quá trình điều tra, Q khai nhận bản thân Q và anh C thường xuyên liên lạc với nhau. Bị can Q không cung cấp được tài liệu gì chứng minh việc anh Nguyễn Văn C chuyển tiền nhờ bị can mua ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ và kiểm tra đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh da trời, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số: 0962.023.577 của anh Nguyễn Văn C, kết quả kiểm tra không có cuộc gọi, tin nhắn, danh bạ lưu trong máy. Ngày 22/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã đề nghị Trung tâm y tế huyện C xác định tình trạng sử dụng ma túy của anh Nguyễn Văn C. Kết quả: Nguyễn Văn C âm tính với các loại ma túy.

Tiến hành xác minh số tài khoản 108870128938 của Q mở tại Ngân hàng V: xác định vào hồi 12 giờ 19 phút ngày 16/04/2024 có 01 mã chuyển khoản đến từ số tài khoản 4280833416 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) của chị Nguyễn Thị Thu H2; sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khu T, xã H, C, Phú Thọ chuyển số tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành làm việc với chị H2. Tại cơ quan điều tra, chị H2 khẳng định bản thân có sử dụng số tài khoản 4280833416 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B) để làm dịch vụ chuyển tiền, cho khách có nhu cầu chuyển tiền. Vào ngày 16/04/2024 có thực hiện việc chuyển tiền 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) vào số tài khoản 108870128938 mở tại Ngân hàng V của người tên chủ tài khoản Nguyễn Văn Q. Tuy nhiên chị H2 không biết tên, tuổi, địa chỉ người nhờ chuyển tiền là ai ở đâu. Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành rà soát camera nhà chị Nguyễn Thị Thu H2, camera an ninh khu vực gần nhà chị H2 và các nhà xung quanh. Kết quả rà soát: từ trước đến ngày 16/4/2024 nhà chị H2 không lắp đặt hệ thống camera an ninh tại nhà; khu vực gần nhà chị H2 và các nhà xung quanh không có hệ thống camera an ninh lắp đặt gần đó nên không thể tiến hành xác minh đối tượng vào nhà chị H2 vào buổi trưa ngày 16/4/2024. Quá trình điều tra, không có đủ căn cứ chứng minh anh Nguyễn Văn C chuyển tiền nhờ bị cáo Q mua hộ ma tuý.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của người liên quan, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 44/2024/CT-VKSCK, ngày 17/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • * Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 19 (Mười chín) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 17/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068901. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,998gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn Q, SN: 1979, Nơi cư trú: Khu Đ, xã Y, C, Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký; 01 sim số: 0332620309; 01 sim số 0376180775; 01 (một) Túi xách màu nâu có ký hiệu “HOÀNG HÀ DODA” đã cũ.
  • + Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho anh Nguyễn Văn C: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh da trời, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số: 0962.023.577.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

Bị cáo được miễn án phí theo quy định vì bị cáo là hộ nghèo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Tại phiên tòa, Bà Bùi Thu H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P phát biểu quan điểm đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo được áp dụng mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát. Đề nghị miễn án phí theo quy định vì bị cáo là hộ nghèo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 16/4/2024, tại đoạn đoạn đường thuộc khu T, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,471 gam ma túy Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c. Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Do vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[4] Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[5] Nhân thân:

Tại bản án số: 135/2018/HS-ST ngày 25/9/2018, Nguyễn Văn Q bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 08 (tám) tháng tù, án phí 200.000đ về tội Đánh bạc. Q chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2019 và nộp xong án phí vào ngày 21/01/2019. Hiện nay, Q đã được xóa án tích.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo qui định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tù với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo sinh sống cùng gia đình nhưng không có tài sản riêng gì có giá trị, bị cáo làm nghề lao động tự do không ổn định, không xác định được thu nhập. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng: - Đối với 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068901. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,998gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn Q, SN: 1979, Nơi cư trú: Khu Đ, xã Y, C, Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký là ma tuý Hê rô in Nhà nước cấm lưa hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số: 0332620309 và 0376180775; 01 (một) Túi xách đựng ma tuý màu nâu có ký hiệu “HOÀNG HÀ DODA” đã cũ của bị cáo Q. Tại phiên Toà bị cáo không yêu cầu nhận lại điện thoại và 02 sim bị cáo đề nghị tiêu huỷ 02 chiếc sim điện thoại và 01 túi xách không còn giá trị sử dụng. Bị cáo đề nghị bán phát mại sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại cần chấp nhận.

- Đối với: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh da trời, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số: 0962.023.577 thu giữ của anh C cần trả lại cho anh C là phù hợp.

[8]. Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn C không thừa nhận việc chuyển tiền và nhờ Q mua ma túy, chị Nguyễn Thị Thu H2 thực hiện việc chuyển tiền vào số tài khoản của Nguyễn Văn Q nhưng chị H2 không biết tên, tuổi, địa chỉ người nhờ chuyển tiền là ai ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn Q, ngoài lời khai của Q không có tài liệu chứng cứ nào khác để Cơ quan điều tra có căn cứ truy tìm và xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định vì bị cáo là hộ nghèo.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên;

  • * Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 17/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Q.

* Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) Túi niêm phong dán kín, có mã số: PS3A 068901. Mặt trước túi có ghi: Trả lại 0,998gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn Q, SN: 1979, Nơi cư trú: Khu Đ, xã Y, C, Phú Thọ. Mặt sau bì: Có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán và có 03 loại chữ ký; 01 sim số: 0332620309; 01 sim số 0376180775; 01 (một) Túi xách màu nâu có ký hiệu “HOÀNG HÀ DODA” đã cũ.
  • + Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho anh Nguyễn Văn C: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh da trời, đã qua sử dụng, bên trong lắp thẻ sim số: 0962.023.577.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).

Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn Q.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao, nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Cẩm Khê;
  • -VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • -UBND xã nơi B/c cư trú;
  • -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;
  • -THADS huyện Cẩm khê;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger