TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 59/2024/HSST Ngày: 31-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Vũ Anh Kiệt
2. Ông Nguyễn Văn Quang
Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T
(Tên gọi khác: B), Sinh năm: 2003, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Nguyễn Văn C và bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Không có;
- Tiền án: Ngày 27/9/2021, bị Toà án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 65/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/6/2023.
- Tiền sự: Ngày 19/10/2023, bị Công an xã T xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định số 11/QĐ-XPHC, đóng phạt ngày 25/10/2023.
- Nhân thân: Ngày 11/11/2021, bị Công an thị xã L xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản tại Quyết định số 26256/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo đang được tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Lê Thị Q, sinh năm: 2003. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 13/01/2024, Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 86B6-203.99 đến nhà ông Lê Văn T1 ở thôn T, xã T, thị xã L với mục đích mượn tiền. Khi đến nơi, T dựng xe phía bên hông nhà rồi đi vào nhà ông T1. Tuy nhiên, lúc này không có ông T1 ở nhà mà chỉ có chị Lê Thị Q (con gái ông T1) và anh Trần Thuận N (chồng chị Q) đang nằm ngủ trong phòng cùng con nhỏ. Khi thấy T, chị Q hỏi tìm ai thì T nói tìm chú T1 nên chị Q nói không có chú T1 ở nhà. Lúc này, T để ý thấy trên nền phòng ngủ có để một chiếc điện thoại di động nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Sau đó, T tiếp tục quay lại phòng ngủ thì chị Q lại hỏi T: “Có chuyện gì không?” thì T trả lời: “Kiếm chú T1 trả tiền”. Nghe T nói vậy, chị Q lấy điện thoại di động hiệu Samsung A02S màu đỏ đi ra phòng khách để gọi cho ông T1. Lúc này, T đi đến dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay của chị Q rồi nhanh chóng chạy ra xe mô tô. Lập tức, chị Q hô hoán lên thì anh N từ trong nhà đuổi theo. Khi cách khoảng 3 - 4 mét thì T rút trong túi quần ra một con dao bấm giơ lên hù doạ nên anh N không dám xông đến. Sau đó, T lên xe mô tô chạy về nhà.
Đến chiều tối cùng ngày, T đem chiếc điện thoại Samsung A02S đến cửa hàng điện thoại ở phường P tiêu thụ nhưng do giá rẻ nên T đem về. Sau đó, T chạy xe về nhà anh Đỗ Tấn Nguyên K ở thôn B, xã T, thị xã L thì bị lực lượng Công an xã T làm việc, thu giữ các đồ vật, tài sản sau:
- 01 điện thoại hiệu Samsung A02S màu đỏ, bị vỡ mắt kính ốp lưng, màn hình điện thoại một phần bị tách rời ra khởi khung sườn máy, trên màn hình điện thoại có vết nứt, điện thoại không hoạt động (do quá trình thu giữ giằng co với T làm điện thoại bị rơi gây hư hỏng).
- 01 xe mô tô hiệu hiệu Honda Airblade biển số 86B6- 20399; 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 con dao dài 20cm, cán bằng kim loại màu đen dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09cm. (Bút lục: 20)
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-ĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A02S màu đỏ, ốp lưng dạng kính ốp nhựa dẻo nhiều vết nứt trên ốp lưng và màn hình, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 1.000.000 đồng. (Bút lục: 17, 18)
Về vật chứng vụ án: Đối với điện thoại hiệu S, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chị Lê Thị Q vào ngày 02/4/2024. Đối với xe mô tô biển số 86B6- 20399, là tài sản của ông Nguyễn Văn C (cha ruột T) nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông C vào ngày 01/4/2024. Đối với điện thoại Oppo màu đen, là tài sản của T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T vào ngày 01/4/2024. Đối với con dao thu giữ của Nguyễn Minh T, đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự chờ xử lý.
Về dân sự: Trong giai đoạn điều tra, Nguyễn Minh T đã bồi thường cho chị Lê Thị Q số tiền 1.800.000 đồng khắc phục hậu quả; chị Q đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSLG-HS ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Minh T, về tội: “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội "Cướp giật tài sản";
Áp dụng: Khoản 1 Điều 171; Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T, mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về vật chứng: Tịch thu tuy hủy 01 con dao. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L.
- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
- Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
- Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 13/01/2024 tại nhà ông Lê Văn T1 ở thôn T, xã T, thị xã L, Nguyễn Minh T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu S A02S trị giá 1.000.000 đồng trên tay của chị Lê Thị Q rồi nhanh chóng chạy ra xe mô tô. Lập tức, chị Q hô hoán lên thì chồng chị Q từ trong nhà đuổi theo. Khi cách khoảng 3 - 4 mét thì T rút trong túi quần ra một con dao bấm giơ lên hù doạ nên chồng chị Q không dám xông đến. Sau đó, T lên xe mô tô tẩu thoát.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Cướp giật tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, bị cáo cướp giật tài sản của bị hại như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Tái phạm) quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dài 20 cm, cán bằng kim loại màu đen dài 11 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09 cm. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các vật chứng khác quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Q đã được bị cáo bồi thường số tiền 1.800.000 đồng. Trong quá trình điều tra vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, xét đây là sự tự nguyện của bà Q, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 171; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- - Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T, phạm tội “Cướp giật tài sản”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao dài 20 cm, cán bằng kim loại màu đen dài 11 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 09 cm. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Thịnh |
Bản án số 59/2024/HSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 59/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T phạm tội Cướp giật tài sản
