|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 30/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Ngô Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công
Bà Vũ Thị Phương Hạnh
Thư ký phiên toà : Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký TAND thành phố Bà Rịa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Như Điểm– Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Hồng N; Sinh năm 1985 tại Bà Rịa- Vũng Tàu.
HKTT: tổ 7, khu phố 1, phường Long Toàn, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Huỳnh Thị T (đã chết); có chồng là Lê Thanh H, sinh năm 1983; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền án: Không.
Tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Đinh Văn C1, sinh năm 1978;
- Bà Bùi Thị Bích H1, sinh năm 1986
Cùng địa chỉ: khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (ông C1, bà H1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngay2/02/2024, Nguyễn Thị Hồng N bán bao lì xì gần sạp bán rau củ của ông Đinh Văn C1, sinh năm 1978 và vợ là bà Bùi Thị Bích H1, sinh năm 1986; chỗ ở hiện nay: khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại chợ P thuộc khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. N nhìn thấy ông C1 có để 01 (một) xấp tiền trong thùng nhựa màu đỏ ở khu vực sạp bán rau cũ nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân. Lợi dụng lúc ông C1 và bà H1 sơ hở, không trông coi thùng đựng tiền, N đã lén lút lấy xấp tiền để trong thùng và giấu vào túi áo khoác. Sau khi về nhà, N kiểm đếm xấp tiền đã lấy trộm được 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng).
Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/02/2024, sau khi dọn hàng trở về nhà, ông C1 kiểm đếm tiền hàng thì phát hiện bị mất số tiền 21.000.000đ. Ngày 16/02/2024, Ông C1 đã đến Công an phường P trình báo sự việc.
Qua xác minh thông tin và hình ảnh camera tại khu vực hiện trường do ông Nguyễn Minh H2, sinh năm 2000; HKTT: khu phố C, phường P, thành phố B, cung cấp, xác định Nguyễn Thị Hồng N là người lấy trộm số tiền 21.000.000đ của ông C1, bà H1.
Tại Cơ quan công an, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. N khai đã sử dụng 11.000.000₫ vào mục đích tiêu xài cá nhân và giao nộp số tiền 10.000.000₫ còn lại.
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 USB lưu trữ đoạn clip ghi nhận diễn biến sự việc được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
- - số tiền 10.000.000đ do bị cáo N giao nộp, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho ông C1 và bà H1.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường cho ông C1, bà H1 số tiền 11.000.000đ. Ông C1 và bà H1 không có ý kiến gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 65/CT-VKSTPBR ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến gì đối với Bản Cáo trạng số 65/CT-VKSTPBR ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử như sau:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, b khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ đoạn clip ghi nhận diễn biến sự việc.
Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ bao gồm lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, biên bản sự việc, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 09/02/2024 tại chợ P thuộc khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị Hồng N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của vợ chồng ông Đinh Văn C1 và bà Bùi Thị Bích H1 số tiền 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng)
Như vậy, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con nhỏ đang đi học, người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội vẫn đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ đoạn clip ghi nhận diễn biến sự việc.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm (30/5/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ đoạn clip ghi nhận diễn biến sự việc.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thu Hà |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
