Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN SƠN TRÀ – TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày: 30-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QHUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời

Bà Dương Thị Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tuấn Thanh Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Thái T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/6/1990 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ 45, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: Phòng 501, căn hộ số K39/17 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Như A (sinh năm 1969) và bà Thái Thị Kim H (sinh năm 1972), cùng trú tại: Tổ 45, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 28/6/2013 bị Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/01/2024 và hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Số 123 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Ông Hồ Như A, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Tổ 45, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Số 123 đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng Công an phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà kiểm tra phòng 501, căn hộ số K39/17 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng phát hiện dưới ga giường trong phòng ngủ của Hồ Thái T có 01 gói ni lông bên trong có chứa 10 viên nén màu trắng in chữ “NETFLIX” và 04 gói ni lông bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Hồ Thái T khai nhận đó là ma túy tổng hợp thuốc lắc và Ketamine T cất giấu để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và tạm giữ tang vật liên quan.

* Tang vật thu giữ:

  • - 01 gói ni lông trong suốt kích thước (4x7) cm bên trong chứa 10 (mười) viên ném màu trắng in chữ “NETFLIX” và 04 (bốn) gói ni lông trong suốt kích thước khoảng (4x7) cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Bì niêm phong ký hiệu T.
  • - 10 bao ni lông kích thước (4x7) cm chưa qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, Imei: 356720119296302, gắn sim số: 0905.352.382.
  • - 01 điện thoại Nokia, màu tím, Imei: 359192491217453, gắn sim số: 0785.438.386.
  • - 01 điện thoại Nokia, màu đen, Imei: 357723107969459, gắn sim số: 0795.518.722 (đã bị vỡ mặt sau).
  • - 01 xe máy hiệu Honda SH màu trắng, BKS: 43K1 – 460.48; số khung: 028343; số máy: 0028396.

Qua điều tra xác định:

Khoảng đầu tháng 01/2024, Hồ Thái T gọi điện cho một người thanh niên quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) mua 10 viên ma túy thuốc lắc và 40 gam ma tuý Ketamine với số tiền 25.000.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà cất giấu tại phòng 501, căn hộ số K39/17 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Phòng trọ này do bạn gái của T tên Trần Thị Thu T1 (sinh năm 1993; trú tại: Tổ 02, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng) đứng ra thuê giúp để T ở. T lấy một ít ma túy Ketamine để sử dụng, số ma túy còn lại T cất giấu tại phòng trọ của mình để sử dụng dần nhưng chưa kịp sử dụng thì lúc 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2024 bị Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phát hiện, bắt quả tang, tạm giữ tang vật.

Kết quả xét nghiệm ma túy: Hồ Thái T dương tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 80/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng xác định:

  • - Các viên nén màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma ma túy loại MDMA, khối lượng: 4,426 gam.
  • - Chất tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy Ketamine, khối lượng: 39,414 gam.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều luật BLHS 2015 thì tổng tỉ lệ phần trăm được tính là: 4,426/30x100 + 39,414/100 x100 = 19,17% + 39,414% = 58,584% (dưới 100%).

Tại bản cáo trạng số: 53/CT- VKS- ST ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Hồ Thái T bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hồ Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS xử phạt Hồ Thái T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 80/GĐ-MT ngày 17/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 10 bao ni lông kích thước (4x7) cm chưa qua sử dụng; 01 sim điện thoại số 0905.352.xxx.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, Imei: 356720119296302.

- Trả lại cho Hồ Thái T 01 điện thoại Nokia, màu tím, Imei: 359192491217453, gắn sim số: 0785.438.386;

- Trả lại cho Hồ Thái T 01 điện thoại Nokia, màu đen, Imei: 357723107969459, gắn sim số: 0795.518.722 (đã bị vỡ mặt sau)

Bị cáo Hồ Thái T thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Hồ Như A đã nhận lại 01 xe mô tô Honda SH màu trắng BKS 43K1 – 460.48 và không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cũng như các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại phòng 501, căn hộ số K39/17 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, Hồ Thái T bị bắt quả tang khi đang cất giấu 4,426 gam ma tuý loại MDMA và 39,414 gam ma tuý loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của Hồ Thái T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, ngày 28/6/2013 Hồ Thái T bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do lỗi cố ý. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 53 BLHS, hành vi phạm tội lần này của bị cáo được coi là tái phạm nguy hiểm nên bị cáo phải bị truy cứu thêm tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức được tác hại nghiêm trọng của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhận thức được tình hình tệ nạn xã hội do ma túy gây ra nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm khắc.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng có 01 tiền án ngày 28/6/2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm vào tội rất nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự. Do đó, cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã từng tham gia quân ngũ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự bị cáo được hưởng khi cân nhắc quyết định hình phạt.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do không có căn cứ xác định được thu nhập, tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng BKS 43K1 – 460.48 do ông Hồ Như A chủ sở hữu. Ông A cho bị cáo mượn xe mô tô để sử dụng, không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho ông A là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 bì niêm phong số 80/GĐ-MT ngày 17/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 10 bao ni lông kích thước (4x7) cm chưa qua sử dụng. Vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, Imei: 356720119296302, gắn sim số: 0905.352.382 thu giữ của bị cáo T có liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước;

- Đối với 01 điện thoại Nokia, màu tím, Imei: 359192491217453, gắn sim số: 0785.438.386 và 01 điện thoại Nokia, màu đen, Imei: 357723107969459, gắn sim số: 0795.518.722 (đã bị vỡ mặt sau) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hồ Thái T ngày 28/02/2024 Công an quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

- Đối với nam thanh niên đã bán trái phép chất ma tuý cho T hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

- Đối với ông Hồ Như A là chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng, gắn BKS: 43K1 – 460.48. Ông A cho con ruột là Hồ Thái T mượn làm phương tiện đi lại. Ông A không biết T sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý hình sự đối với ông A là có căn cứ.

- Đối với anh Nguyễn Minh T là người được ủy quyền quản lý căn hộ nơi bị cáo thuê để ở, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với chị Trần Thị Thu T1 là bạn gái của T, hiện T1 không có mặt tại nơi cư trú, tuy nhiên qua lời khai của T xác định việc T tàng trữ trái phép chất ma tuý tại phòng trọ không ai biết nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đề cập xử lý hình sự đối với T1 là có căn cứ.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Hồ Thái T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm n, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hồ Thái T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên.

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong số 80/GĐ-MT ngày 17/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng; 10 bao ni lông kích thước (4x7) cm chưa qua sử dụng; 01 sim điện thoại số 0905.352.xxx.
  • - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, Imei: 356720119296302 thu giữ của bị cáo Hồ Thái T.
  • - Trả lại cho Hồ Thái T 01 điện thoại Nokia, màu tím, Imei: 359192491217453, gắn sim số: 0785.438.386; 01 điện thoại Nokia, màu đen, Imei: 357723107969459, gắn sim số: 0795.518.722 tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Toàn bộ vật chứng này hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2024.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hồ Thái T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND q. Sơn Trà, Tp Đà Nẵng;
  • - VKSND Thành phố Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS q. Sơn Trà, Tp Đà Nẵng;
  • - Công an quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thái T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger