|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 29- 7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bảy
Ông Dương Sinh Huy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc B, sinh ngày 11/5/1992 tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi thường trú ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang; chổ ở hiện nay ấp A, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N và bà Hà Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Như T (đã ly hôn) và chưa có con; tiền án: 01 tiền án. Ngày 14/3/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 14/5/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và đã được xóa án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Bà Tô Thị Mỹ H1, sinh năm 1982; nơi cư trú khóm A, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; nơi cư trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bà Phạm Thúy H2, sinh năm 1969; nơi cư trú ấp P, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Ông Ngô Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1982; nơi cư trú số E, đường T, Khóm E, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Ông Huỳnh Khắc D, sinh năm 1985; nơi cư trú số S, Khóm E, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1978; nơi cư trú ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ, ngày 22/3/2024, bị cáo Nguyễn Quốc B dùng điện thoại di động, số thuê bao: 0939.718.768 gọi cho chị Tô Thị Mỹ H1 là chủ đại lý bia "Thiên Nga D1" nói dối là nhà có tổ chức tiệc nên cần mua bia số lượng lớn và hẹn sau tiệc xong sẽ trả tiền thì chị H1 đồng ý. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, B thuê xe ô tô 07 chỗ, nhãn hiệu Fortuner, biển số: 64A-186.28, do tài xế Nguyễn Thanh P điều khiển chở đến đại lý bia “Thiên Nga D”, tọa lạc tại: ấp A, xã T, huyện M để chở bia. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, B đến địa điểm. Lúc này B gặp anh Nguyễn Văn T1 là nhân viên quản lý kho, Bảo nói là đã điện thoại cho chị H1 rồi, giờ đến lấy bia, B giới thiệu là đang công tác ở huyện. T1 tin tưởng là thật nên đã giao: 12 (mười hai) thùng Tiger bạc, 10 (mười) thùng Heniken bạc loại 330ml, 20 thùng Heniken loại 250ml. Sau khi nhận được bia, B chở đi bán cho bà Phạm Thúy H2, đại lý bia “Út Hằng" thuộc: ấp P, xã H, huyện V với số tiền: 15.160.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, B tiếp tục quay lại đại lý “Thiên Nga Drinks" lấy tiếp 30 thùng bia gồm: 20 (hai mươi) thùng Tiger nâu lon, 10 (mười) thùng Heniken 250ml. Sau đó B đem đến đại lý bia “Hậu Mập” bán cho anh Ngô Nguyễn Xuân H3, chủ đại lý với số tiền là 9.300.000 đồng. Sau khi bán xong B trả tiền thuê xe ô tô 900.000 đồng, cho riêng tài xế 200.000 đồng, số tiền còn lại Bảo tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 09 giờ, ngày 25/3/2024, với thủ đoạn như trên, B thuê xe ô tô 07 chỗ nhãn hiệu Fortuner, biển số: 64A-186.28, do tài xế Nguyễn Thanh P điều khiển chở B quay lại đại lý bia "Thiên Nga Drinks", gặp anh Nguyễn Văn T1, chở 50 (năm mươi) thùng bia lon Heineken 250ml. B tiếp tục đem đến đại lý bia “Út Hằng” bán cho bà Phạm Thúy H2 với số tiền là 16.250.000 đồng. Sau đó B trả tiền thuê xe ô tô 900.000 đồng, cho riêng tài xế 200.000 đồng, số tiền còn lại Bảo tiêu xài cá nhân hết. Ngày 26/3/2024, chị Tô Thị Mỹ H1 điện thoại cho B, yêu cầu B thanh toán tiền, B hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả. Đến ngày 28/3/2024, chị H1 đến Công an xã T, huyện M tố giác sự việc trên.
Tang vật và đồ vật thu giữ gồm:
- - 10 (mười) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger nâu dung tích 330ml.
- - 05 (năm) thùng bia lon nhãn hiệu Heineken có dung tích 250ml.
- - 04 (bốn) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger bạc dung tích 330ml.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, 01 sim có số thuê bao 0939.718.768.
2
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 05/KLĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện M kết luận:
- - 80 (tám mươi) thùng Heineken lon nhỏ 250ml x 345.000đ/thùng = 27.000.000 đồng.
- - 20 (hai mươi) thùng Tiger lon nâu x 345.000₫ = 6.900.000 đồng.
- - 12 (mười hai) thùng Tiger lon bạc x 397.000đ = 4.764.000 đồng.
- - 10 (mười) thùng Heineken loại lớn 330ml x 445.000đ/thùng = 4.450.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản tại thời điểm chiếm đoạt tài sản là: 43.714.000 đồng.
Ngày 12/4/2024, bị cáo Nguyễn Quốc B bị khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bị bắt để tạm giam.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về tang vật và đồ vật đã tạm giữ:
- 10 (mười) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger nâu dung tích 330ml; 05 (năm) thùng bia lon nhãn hiệu Heineken có dung tích 250ml và 04 (bốn) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger bạc dung tích 330ml. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị hại Tô Thị Mỹ H1, hiện nay đã trả lại cho chị H1 xong.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, 01 sim có số thuê bao 0939.718.768. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo B. Đây là phương tiện dùng để liên hệ để thực hiện hành vi phạm tội, nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Hiện nay chị Tô Thị Mỹ H1 yêu cầu bị cáo B bồi thường 103 thùng bia (08 thùng bia lon, nhãn hiệu Tiger bạc, dung tích 330ml, 10 (mười) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger nâu, dung tích 330ml, 10 (mười) thùng bia lon nhãn hiệu Heineken, có dung tích 330ml và 75 (bảy mươi lăm) thùng bia lon nhãn hiệu Heineken, có dung tích 250ml) với tổng số tiền: 36.951.000 đồng; bà Phạm Thúy H2 yêu cầu bồi thường 04 thùng bia lon, nhãn hiệu Tiger bạc, dung tích 330ml với số tiền 1.520.000 đồng; anh H3 yêu cầu bồi thường 15 thùng bia [10 (mười) thùng bia lon nhãn hiệu Tiger nâu, dung tích 330ml, 05 (năm) thùng bia lon nhãn hiệu Heineken, có dung tích 250ml)] với tổng số tiền: 4.650.000 đồng. Tổng số tiền phải bồi thường là 43.121.000 đồng. Với các yêu cầu trên bị cáo B thống nhất bối thường nhưng đến nay vẫn chưa bồi thường xong.
Đối với hành vi mua bia do người khác phạm tội mà có của bà Phạm Thúy H2 và anh Ngô Nguyễn Xuân H3. Khi mua bà H2 và anh H3 hoàn toàn không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với anh Nguyễn Thanh P là tài xế chở bị cáo B đi lấy bia. Khi chở anh P hoàn toàn không biết B đi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nên Cơ quan điều tra không xử lý.
3
Tại Cáo trạng số: 42/CT-VKS.HMT ngày 07 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số: 18/2024/HS-PT ngày 14/3/2024. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; về vật chứng tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy và về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quốc B khai nhận: Vào lúc khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 22/3/2024 tại đại lý bia "", của chị Tô Thị Mỹ H1, thuộc: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo B đã gian dối thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là: 12 (mười hai) thùng Tiger bạc, 10 (mười) thùng Heniken bạc loại 330ml và 20 thùng Heniken loại 250ml của chị H1, theo kết luận định giá có trị giá là 16.114.000 đồng. Sau đó B đem bán cho bà Phạm Thúy H2 chủ đại lý bia “Út Hằng”, với số tiền: 15.160.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo B quay lại đại lý bia “Thiên Nga D”, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là: 20 (hai mươi) thùng Tiger nâu lon, 10 (mười) thùng Heniken 250ml của chị H2, theo kết luận định giá có trị giá là 10.350.000 đồng. B đem bán cho anh Ngô Nguyễn Xuân H3 chủ đại lý bia “Hậu Mập” với số tiền là 9.300.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ, ngày 25/3/2024, bị cáo B tiếp tục đến đại lý bia “Thiên Nga D”, thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là: 50 (năm mươi) thùng bia lon Heineken 250ml của chị H2, theo kết luận định giá có trị giá là 17.250.000 đồng. Sau đó B đem bán cho bà Phạm Thúy H2 chủ đại lý bia “Út Hằng”, với số tiền: 16.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo B đã chiếm đoạt vào ngày 22/3/2024 và 25/3/2024 là 43.714.000 đồng.
Xét; lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, kết luận định giá và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Nguyễn Quốc B phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản của công dân. Bị cáo muốn có tài sản để sử dụng cho lợi ích cá nhân, nhưng lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà lợi dụng sự tin tưởng của người khác để thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của họ làm của riêng mình, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đi ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Bị cáo là người đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì hiện nay bị cáo không có thu nhập.
[3] Tại bản án hình sự phúc thẩm số: 18/2024/HS- PT ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt bị cáo 09 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Hiện nay, chị Tô Thị Mỹ H1 yêu cầu bị cáo B bồi thường tổng số tiền 36.951.000 đồng; bà Phạm Thúy H2 yêu cầu bồi thường số tiền 1.520.000 đồng và anh H3 yêu cầu bồi thường số tiền: 4.650.000 đồng. Với các yêu cầu trên bị cáo B đồng ý bồi thường.
Xét sự thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.
[5] Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng và 01 sim có số thuê bao 0939.718.768 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo B. Xét đây là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy.
[6] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 174; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án
Tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
1. Phạt bị cáo Nguyễn Quốc B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự phúc thẩm số: 18/2024/HS-PT ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Buộc bị cáo Nguyễn Quốc B phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Quốc B.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
2.1 Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Quốc B và bị hại Tô Thị Mỹ H1 về việc bị cáo Nguyễn Quốc B có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Tô Thị Mỹ Hằng số tiền 36.951.000 đồng (ba mươi sáu triệu chín trăm năm mươi mốt ngàn đồng).
2.2 Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Quốc B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thúy H2 về việc bị cáo Nguyễn Quốc B có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thúy Hằng s tiền 1.520.000 đồng (một triệu năm trăm hai chục ngàn đồng).
2.3 Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Quốc B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Ngô Nguyễn Xuân H3 về việc bị cáo Nguyễn Quốc B có nghĩa vụ bồi thường cho anh Ngô Nguyễn Xuân H3 số tiền 4.650.000 đồng (bốn triệu sáu trăm năm chục ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về vật chứng:
3.1 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng.
3.2 Tịch thu tiêu hủy: 01 sim có số thuê bao 0939.718.768
(Vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/6/2024).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc B phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trương Tấn Đồng |
7
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
