|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 28-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Duy Thấm;
Bà Thị Amina.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Trung tâm học tập cộng đồng xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Dương Thị Hồng T, sinh năm 1998 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 và bà Bùi Thị T2; có chồng là Nguyễn Văn V (đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến nay (có mặt).
2. Lê Quang L, sinh năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc T3 và bà Lê Thị L1; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 27/6/2023, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/QĐ-XPHC về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 15/8/2023; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2024 đến nay (có mặt).
3. Nguyễn Huy A (Đ), sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy T4 và bà Hoàng Thị V1; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 10/10/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 48/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 18/01/2024; nhân thân: Từ năm 2012 đến năm 2013 đi cải tạo tại Trường G thuộc tỉnh Đồng Nai. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2015. Ngày 02/6/2022, bị Công an xã T xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 13/7/2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng và bán ma túy cho người khác nhằm hưởng lợi, bị cáo T đã mua ma túy của bị cáo L sau đó mang về chia nhỏ ra rồi cùng với bị cáo Huy A bán lại cho cho nhiều người sử dụng, cụ thể như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/02/2024, T đang ở nhà thuộc ấp T, T, huyện T thì được anh Trần Văn D, sinh năm 1996 ngụ ấp T, T, huyện T điện thoại hỏi mua ma túy với số tiền là 200.000 đồng thì được T đồng ý bán và hẹn anh D đi đến khu vực trước nhà H thuộc ấp T, xã T, huyện T để giao ma túy. T điều khiển xe mô tô đến khu vực đường bê tông trước nhà Huy A rồi ném cái khẩu trang được cuộn tròn bên trong có chứa ma túy xuống ven đường. Sau đó T đi vào nhà Huy A nói với Huy A khi nào anh D đến mua ma túy thì nhận tiền và chỉ cái khẩu trang ở ven đường có chứa ma túy cho anh D lấy, rồi mang tiền về đưa lại cho T. Khoảng 05 phút sau, anh D chạy xe đến cổng nhà Huy A thì Huy A đi ra gặp anh D nhận 200.000 đồng tiền mua ma túy và chỉ nơi để khẩu trang có chứa ma túy cho anh D lấy, sau khi nhận tiền Huy A vào nhà đưa cho T. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, anh Chàm A1, sinh năm 1998 ngụ ấp T, xã T, huyện T đến nhà anh D để nhờ anh D chở đi mua ma túy. Anh A1 bỏ ra số tiền 150.000 đồng và anh D bỏ ra số tiền 150.000 đồng để hùn mua ma túy về chia đôi số ma túy, mỗi người 01 nữa để sử dụng riêng. Lúc này, T đang ở nhà anh Huy A thì anh D gọi điện thoại cho T để tiếp tục hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng thì được T đồng ý bán và hẹn đến trước cổng nhà Huy A để giao ma túy. T đi bộ ra trước cổng nhà Huy A, treo khẩu trang bên trong có chứa ma túy trên hàng rào phía trước cổng
nhà Huy A rồi T đi vào trong nhà chỉ cho Huy A biết nơi để ma túy. T nhờ Huy A chờ anh D đến nhận tiền mua ma túy và chỉ cho anh D chỗ để ma túy. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh D chở theo anh Chàm A1 đi đến trước cổng nhà Huy A đưa cho Huy A số tiền 300.000 đồng và được Huy A chỉ nơi để khẩu trang có chứa ma túy cho anh D lấy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Qua điều tra xác định được, trong khoản thời gian từ tháng 01/2024 đến ngày 05/02/2024, L đã 04 lần bán ma túy cho T để T bán lại cho người khác, cụ thể: Trong tháng 1/2024 (không nhớ ngày), L bán ma túy cho T 02 lần, lần thứ nhất mua với số tiền 500.000 đồng; lần thứ hai, T mua với số tiền 1.000.000 đồng. Lần thứ ba, ngày 01/02/2024, T mua 800.000 đồng. Lần thứ tư, ngày 05/02/2024, T mua 3.300.000 đồng. Các lần bán ma túy cho T, L đều mang đến nhà T để giao.
Ngoài lần bị bắt quả tang thì trước đó T đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người cụ thể như sau: Trong tháng 12/2023 (không nhớ ngày), T bán ma túy cho Nguyễn Thị Kim T5, sinh năm 1992, ngụ ấp T, xã T, huyện T 02 lần với số tiền 200.000 đồng và 300.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T, Tây Ninh. Trong tháng 01/2024 (không nhớ ngày), T bán ma túy cho Trần Văn D 04 lần với số tiền từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, trong đó Huy A phụ giúp T giao ma túy cho D 03 lần tại khu vực ấp T, xã T, huyện T. T trực tiếp bán ma túy cho Nguyễn Thị Kiều T6, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện T 02 lần với số tiền 200.000 đồng và 300.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T. T bán ma túy cho Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1988, ngụ ấp T, xã T, huyện T 02 lần với số tiền 200.000 đồng và 300.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T. Ngày 29/01/2024, T bán cho Bùi Phương T7, sinh năm 1997 ngụ ấp T, xã T, huyện T 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng tại khu vực ấp T, xã T, huyện T. Ngày 30/01/2024, T bán cho Đặng Thanh M sinh năm 2001, ngụ ấp C, xã S, huyện T 01 bịch ma túy với số tiền là 400.000 đồng tại khu vực trạm xe buýt thị trấn T, huyện T. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/02/2024, M tiếp tục gọi điện thoại cho T để hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng thì T đồng ý và hẹn đến cầu “Trắng” thuộc ấp T, xã T, huyện T để giao ma túy, khi M đến địa điểm đã hẹn nhưng chưa gặp T thì bị Công an mời về làm việc.
Đối với L, ngoài 04 lần bán ma túy cho T, L còn bán ma túy cho người khác cụ thể như sau: Trong tháng 01/2024 (không nhớ ngày), L bán ma túy cho Nguyễn Tấn C, sinh năm 1994, ngụ ấp T, xã T, huyện T 02 lần gần khu vực chợ T9 xã T, một lần 200.000 đồng và 01 lần 500.000 đồng; bán ma túy cho Trần Quang H, sinh năm 1995, ngụ ấp T, xã T, huyện T 02 lần mỗi lần 500.000 đồng tại khu vực gần trường Trung học cơ sở T10 thuộc ấp T, xã T, huyện T. Ngày 04/02/2024, L bán ma túy cho Đoàn
Duy T8, sinh năm 1994, ngụ ấp T, xã T, huyện T với số tiền 300.000 đồng tại khu vực gần cầu T, xã T.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tự khai ra các lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện như trên.
* Kết luận giám định số 320/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0434 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M2) bên trong 04 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,519 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M3) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0918 gam.
Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKSTC ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đề nghị:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Thị Hồng T từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang L từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Huy A từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì không có tài sản để thi hành.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu của bị cáo T số tiền 1.200.000 đồng, của bị cáo L số tiền 1.100.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách nhà nước và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo T xin lỗi cha mẹ vì đã không nghe lời và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo L, Huy A đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 12/2023 đến ngày 05/02/2024, trên địa bàn huyện T, tỉnh Tây Ninh, Lê Quang L đã 09 lần, Dương Thị Hồng T đã 15 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng; Nguyễn Huy A đã 05 lần giúp sức cho Dương Thị Hồng T bán ma túy cho người khác sử dụng. Chất ma túy thu giữ của T dùng để bán cho người khác là loại M1, có tổng khối lượng 0,6542 gam. Số tiền thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy của Lê Quang L là 7.600.000 đồng, của Dương Thị Hồng T 3.500.000 đồng, Nguyễn Huy A giúp sức cho T bán ma túy được T cho ma túy sử dụng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc
mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân và nhằm thu lợi bất chính mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo T là người mua ma túy của bị cáo L về chia nhỏ ra, chủ động đề nghị bị cáo Huy A giúp sức cho mình bán ma túy cho người khác, tự bỏ ra mua ma túy về bán lại cho người khác và bán nhiều lần nhất, lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Bị cáo L là người mua ma túy của người khác bán lại cho bị cáo T và nhiều người khác nhưng số lần bán ít hơn bị cáo T, lẽ ra phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo T. Tuy nhiên, bị cáo T có nhân thân tốt, đang nuôi con nhỏ bị khuyết tật, trong khi bị cáo L có nhân thân xấu nên cần xử phạt hai bị cáo này với mức án ngang nhau là phù hợp. Bị cáo Huy A chỉ giúp sức cho bị cáo T bán ma túy cho người khác 05 lần, không thu lợi bất chính, có vai trò thấp nhất nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên cũng phải xử lý tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều tự thú về các lần phạm tội chưa bị phát hiện; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.
[6] Xét thấy, bị cáo T là người khởi xướng, các bị cáo L, Huy A đều có nhân thân xấu nên với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
[8.1] Đối với: Số ma túy còn lại sau giám định, 02 quẹt gaz, 01 cây kéo thu giữ của bị cáo T là ma túy và là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8.2] Đối với: Số tiền số tiền 9.100.000 đồng, 01 điện thoại Oppo số Imei 1: 1447674; 01 điện thoại Samsung số Imei 1: 754103/01 thu giữ của các bị cáo T, L là tiền thu lợi bất chính và là công cụ phạm tội, cần tịch thu vào Ngân sách nhà nước.
[8.3] Cần truy thu của bị cáo T số tiền 1.200.000 đồng, của bị cáo L số tiền 1.100.000 đồng là tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy mà có để sung vào Ngân sách nhà nước.
[8.4] Đối với: 01 điện thoại Samsung số Imei 1: 3380153/01, 01 điện thoại Iphone số Imei 1: 670263 thu giữ của các bị cáo T, L không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Đối với người tên L2 bán ma túy cho L, do L cung cấp không đầy đủ thông tin nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
[10] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn D, C, Bùi Phương T7, Nguyễn Thị Kim T5, Nguyễn Thị Kiều T6, Nguyễn Thị Ngọc B (P), Đặng Thanh M, Nguyễn Tấn C, Đoàn Duy T8 và Trần Quang H, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an xã T và Công an xã T xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
1.1. Xử phạt bị cáo Dương Thị Hồng T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/02/2024.
1.2. Xử phạt bị cáo Lê Quang L 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/02/2024.
1.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy A (Đ) 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bì thư được niêm phong ghi số 320, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M2, Trợ lý Giám định viên Tạ Minh P1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) là Methamphetamine có khối lượng 0,4461 gam; 02 quẹt gaz và 01 cây kéo bằng kim loại.
2.2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 9.100.000 (chín triệu một trăm nghìn) đồng bên trong 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Trịnh Thị Nhật Q có: 01 (một) tờ tiền Việt Nam đồng (polymer) mệnh giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng có bảng thống kê số seri kèm theo; 30 (ba mươi) tờ tiền Việt Nam đồng (polymer) mệnh giá 200.000
(hai trăm nghìn) đồng có bảng thống kê số seri kèm theo; 25 (hai mươi lăm) tờ tiền Việt Nam đồng (polymer) mệnh giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng có bảng thống kê số seri kèm theo; 02 (hai) tờ tiền Việt Nam đồng (polymer) mệnh giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng có bảng thống kê số seri kèm theo.
- 01 điện thoại Oppo số Imei 1: 1447674 thu giữ của bị cáo Dương Thị Hồng T; 01 điện thoại Samsung số Imei 1: 754103/01 thu giữ của bị cáo Lê Quang L.
2.3. Truy thu của bị cáo Dương Thị Hồng T số tiền 1.200.000 (một triệu hai trăm nghì) đồng; truy thu của bị cáo Lê Quang L số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng để sung vào Ngân sách nhà nước.
2.4. Trả lại cho bị cáo Dương Thị Hồng T 01 điện thoại Samsung số Imei 1: 3380153/01; trả lại cho bị cáo Lê Quang L 01 điện thoại Iphone số Imei 1: 670263 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024).
3. Về án phí: Căn cứ và o Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Dương Thị Hồng T, Lê Quang L, Nguyễn Huy A (Đức) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Hồng T cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy
