trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2024 HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

"V/v tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông

2.

Thư ký Toà án phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: Không tham gia phiên toà.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/QÐST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 2001

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1994

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Chị T và anh Q có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Lê Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Q đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 10/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện.

Quá trình chung sống vợ chồng chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Bản thân anh Q hay rượu chè, chửi mắng, xúc phạm chị.vợ chồng thường xuyên cãi vã, khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Vì vậy, chị xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 02/12/2021. Khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung,

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và tại phiên toà anh Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như chị Vân A đã khai.

Quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, đến tháng 2 năm 2024 chị T mang con về nhà ngoại ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh Q xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, mong muốn về đoàn tụ, trường hợp chị T cương quyết ly hôn anh Q nhất trí với điều kiện được nuôi con chung.

Về con chung: Anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 02/12/2024 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được quan điểm giải quyết vụ án, vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Q có nơi cư trú tại xã Ú, huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

Tại phiên tòa nguyên đơn bị đơn anh Q vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Q vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Q.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T kết hôn với anh Trần Văn Q năm 2021 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ trên cơ sở tự nguyện do đó được công nhận là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống chị T cho rằng vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 4 năm 2022 đến nay. Chị T xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng nên chị T có nguyện vọng xin được ly hôn với anh Q.

Anh Q xác định vợ chồng không xảy ra có mâu thuẫn gì lớn, tuy nhiên hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Chị T đã đưa con về nhà ngoại ở. Anh Q nhất trí ly hôn với điều kiện được nuôi con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế trong cuộc sống vợ chồng anh, chị đã xảy ra những mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Từ khi chị T có đơn ly hôn nộp tại Tòa án, anh Q có nguyện vọng vợ chồng về đoàn tụ nhưng trong thời gian giải quyết ly hôn tại toà anh Q không có biện pháp gì nên vợ chồng vẫn không cải thiện được tình cảm. Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên quan. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh Q đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị T, cho chị được ly hôn với anh Q như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: có 01 con chung Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 02/12/2021.

Nhận thấy chị T và anh Q đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.

Xét thấy, cần đảm bảo sự phát triển ổn định tâm sinh lý của trẻ dưới 36 tháng tuổi và điều kiện chăm sóc, giáo dục con của chị T thấy rằng khi ly hôn giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Anh T2 không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị H và anh T2 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T và anh Q không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí, quyền kháng cáo: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 146, 147, khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2017.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T, cho chị T được ly hôn anh Trần Văn Q.
  2. Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 02/12/2021 đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

    Anh Q không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T và anh Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do chị T không yêu cầu.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Do chị T và anh Q không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003839 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết trong hạn 15 ngày, chị T và anh Q được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng M

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - CC THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Thượng Đình, h. Phú Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024 HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: /2024 HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger