Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Đắc Minh;
  2. Ông Trương Hữu Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1973, tại Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Số H K, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh C và bà Nguyễn Thị Kim T; bị cáo có vợ tên Trương Thị Kim S; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Trịnh Minh T1, sinh năm 1981, tại Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T2 và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim T3; có 01 con sinh năm 2008; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 22/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù, phạt bổ sung 12.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 20/2020/HS-ST ngày 22/5/2020. Bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/11/2020, hình phạt bổ sung ngày 01/11/2021; ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Đánh bạc theo Bản án số 67/2020/HS-ST ngày 21/9/2020, tổng hợp hình phạt 08 tháng tù về tội Đánh bạc theo Bản án số 20/2020/HS-ST ngày 22/5/2020, buộc bị cáo chấp hành hình phạt 03 năm 02 tháng tù; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 04/11/2020 (chưa được xóa án tích do chưa đủ thời hạn xóa án tích theo quy định).

    Nhân thân: Ngày 07/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng, phạt bổ sung 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 24/2016/HSST ngày 07/4/2016 (đã xóa án tích).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Dương Minh C1, sinh năm 1986, tại Bình Dương; Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh T4 và bà Nguyễn Thị Ánh T5; tiền án: không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Bùi Văn T6, sinh năm 1982, tại Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Số A đường P, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi tạm trú: Nhà trọ T Đại lộ B, tổ B, khu C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Pham Thị N1; bị cáo có vợ tên Mai Thị D (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 16/9/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương xử phạt 40.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án số 116/2021/HSST ngày 16/9/2021. Bị cáo đã đóng án phí hình sự sơ thẩm nhưng chưa chấp hành hình phạt tiền theo quy định (chưa xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/02/2024, các bị cáo Trịnh Minh T1, Bùi Văn T6Dương Minh C1 đi đến quán nước giải khát của bị cáo Nguyễn Thanh H tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương để uống rượu. Đến khoảng 14 giờ 00 phút thì ngừng. Lúc này, bị cáo Nguyễn Thanh H mang ra 03 bộ bài tây do khách đến uống nước chơi để lại trước đó và cùng với Trịnh Minh T1, Bùi Văn T6, Dương Minh C1 ngồi vào bàn ghế tại quán nước giải khát của H để chơi đánh bài tố phé thắng thua bằng tiền với cách thức chơi: 01 bộ bài tây 52 lá được chia đều cho 04 người chơi, mỗi người 02 lá bài trong đó lá thứ nhất ngửa, lá thứ 2 úp, mỗi người chơi bỏ ra 50.000 đồng để đặt cược (gọi là tiền đường), tiếp theo người chơi có là bài ngửa lớn được rút trước thêm 01 lá bài thứ 3 nữa (trình tự lá bài từ nhỏ đến lớn được quy định là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A) và lần lượt theo vòng những người chơi khác cũng rút thêm 01 lá bài nữa và tất cả lá bài thứ 3 ngửa lên hết. Người tham gia có lá bài thứ 3 lớn tiếp tục có quyền tố (đặt cược thêm) 50.000 đồng đến 100.000 đồng hoặc không đặt cược thêm (gọi là khui), những người tham gia còn lại sẽ có quyền theo 50.000 đồng đến 100.000 đồng hoặc không theo, tố thêm 50.000 đồng đến 100.000 đồng hoặc không tố thêm, như vậy mỗi ván bài thì 01 tụ bài chỉ được tố 03 lần, mỗi lần tố không quá số tiền 100.000 đồng. Những người chơi còn lại không đánh thì người có lá bài thứ 3 lớn kéo lá bài thứ 4. Người nào theo thì sẽ được rút thêm lá thứ 4, người nào không theo thì úp tất cả bài và thua ván bài này số tiền 50.000 đồng (gọi là tiền đường) đặt cược lúc đầu. Những người đặt cược theo sẽ lật ngửa lá bài thứ 4 lên nếu ai có lá bài thứ 4 lớn thì sẽ có quyền tố (đặt cược thêm) 50.000 đồng đến 100.000 đồng tương tự như lá bài thứ 3, sau đó tất cả lật ngửa lá bài thứ 5 lên, ai có lá bài thứ 5 lớn thì có quyền tố (đặt cược) thêm 50.000 đồng đến 100.000 đồng những người chơi còn lại có quyền theo 50.000 đồng đến 100.000 đồng hoặc không theo. Nếu không còn ai đặt cược nữa thì tất cả người chơi ngửa hết bài lên nếu ai có 02 đôi lớn nhất sẽ thắng hai đôi nhỏ, 01 đôi lớn sẽ thắng 01 đôi nhỏ, 01 đôi sẽ thắng không có đôi, nếu không có đôi thì ai có lá bài lớn nhất sẽ thắng và được hết tất cả tiền những người tham gia đã đặt cược vào.

Cả nhóm thống nhất với nhau trong một ván bài nếu ai thắng được nhiều tiền sẽ bỏ vào cái ly nhựa để dưới bàn nơi đánh bạc 50.000 đồng, để sau khi nghỉ chơi sẽ sử dụng mua bia cho cả nhóm uống.

Cả nhóm chơi đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương bắt quả tang Trịnh Minh T1, Bùi Văn T6Dương Minh C1Nguyễn Thanh H về hành vi đánh bạc. Sau khi bắt quả tang, Công an đã thu giữ các tang vật gồm:

Thu giữ tại bàn các bị cáo đang ngồi đánh bạc: 02 bộ bài tây (mỗi bộ 52 lá) đã qua sử dụng; 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng.

Thu giữ trong 01 ly nhựa màu trắng, dưới bàn nơi các bị cáo đang đánh bạc số tiền Việt Nam: 300.000 đồng.

Thu giữ trên người Dương Minh C1: tiền Việt Nam 4.362.000 đồng.

Thu giữ trên người Bùi Văn T6: tiền Việt Nam 5.500.000 đồng.

Thu giữ trên người Trịnh Minh T1: tiền Việt Nam 2.600.000 đồng.

Thu giữ trên người Nguyễn Thanh H: tiền Việt Nam 1.286.000 đồng.

Thu giữ tại ghế ngồi của Nguyễn Thanh H: tiền Việt Nam 1.100.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định hành vi tham gia đánh bạc của các bị cáo, cụ thể như sau:

Nguyễn Thanh H: Khai nhận mang theo số tiền 2.036.000 đồng, sử dụng 1.300.000 đồng để đánh bạc, còn 736.000 đồng H cất trong túi quần để dành thối tiền cho khách đến uống nước, trong quá trình đánh bạc H được Lê Văn Đ sinh ngày 07/01/1981, nơi thường trú: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương trả nợ số tiền 1.100.000 đồng nên H để riêng tại ghế ngồi . Quá trình đánh bạc, H thua 750.000 đồng. Khi công an bắt quả tang, thu giữ trên người Hùng số tiền 1.286.000 đồng, thu tại vị trí ghế ngồi của H 1.100.000 đồng.

Dương Minh C1: Khai nhận mang theo số tiền 2.562.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, còn 562.000 đồng Chí cất trong túi quần để dành ăn uống và đổ xăng. Quá trình đánh bạc, Chí thắng số tiền 2.000.000 đồng nên để bỏ vào ly nhựa số tiền 200.000 đồng. Khi công an bắt quả tang, thu giữ trên người Chí số tiền 4.362.000 đồng.

Trịnh Minh T1: Khai nhận mang theo số tiền 5.450.000 đồng, sử dụng 4.450.000 đồng để đánh bạc, còn 1.000.000 đồng Tâm cất trong túi quần để dành mua đồ sinh hoạt trong gia đình. Quá trình đánh bạc, T1 thua số tiền 2.850.000 đồng. Khi công an bắt quả tang, thu giữ trên người T1 số tiền 2.600.000 đồng.

Bùi Văn T6: Khai nhận mang theo số tiền 4.000.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng cất ở túi áo trước để đánh bạc, còn 2.000.000 đồng T6 cất trong túi quần để chi tiêu trong dịp tết. Quá trình đánh bạc, Chí thắng số tiền 1.600.000 đồng nên để bỏ vào ly nhựa số tiền 100.000 đồng. Khi công an bắt quả tang, thu giữ trên người T6 số tiền 5.500.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền thực tế các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.750.000 đồng, trong đó: H 1.300.000 đồng, C1 2.000.000 đồng, T1 4.450.000 đồng, T6 2.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 66/CT-VKSDT ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1 từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 (mười sáu) đến 20 (hai mươi) tháng.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58, Bộ luật Hình sự:

Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ 03 bộ bài tây 52 lá (trong đó 02 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa qua sử dụng) là vật chứng trên được các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.750.000 đồng mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Trả lại cho các bị cáo 5.398.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc, cụ thể: (H 1.836.000 đồng, T1 1.000.000 đồng, C1 562.000 đồng, T6 2.000.000 đồng).

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, các bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi đã gây ra. Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đưa ra trong bản luận tội.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra Cảnh sát điều tra, các lời khai thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 00 phút đến 14 giờ 45 phút, ngày 09/02/2024, tại quán nước giải khát của bị cáo Nguyễn Thanh H tại ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bài tố phé thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.750.000 đồng.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự xã hội do nhà nước quản lý, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, mà còn là nguyên nhân kéo theo các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép dưới mọi hình thức bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp. Trong vụ án, các bị cáo đã trực tiếp tham gia đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 9.750.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 66/CT-VKSDT ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy, cần phân tích tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của từng bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt:

[4.1] Bị cáo Nguyễn Thanh H: Sử dụng địa điểm là quán nước giải khát của mình để đánh bạc. Sử dụng số tiền đánh bạc là 1.300.000 đồng, thua hết số tiền 750.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người số tiền 1.286.000 đồng, thu tại vị trí ghế ngồi của H 1.100.000 đồng.

[4.2] Bị cáo Trịnh Minh T1: Mang theo số tiền 5.450.000 đồng. Sử dụng số tiền để đánh bạc là 4.450.000 đồng, thua hết số tiền 2.850.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người T1 số tiền 2.600.000 đồng. Bị cáo từng 03 lần bị xét xử về hành vi đánh bạc (ngày 17/4/2016; ngày 22/5/2020 và ngày 21/9/2020), bị cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhưng không biết quý trọng sự tự do và sự lương thiện để tu sửa, làm một người công dân tốt. Bị cáo chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục đánh bạc. Điều này cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo.

[4.3] Bị cáo Dương Minh C1: Mang theo số tiền 2.562.000 đồng. Sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. T7 được 2.000.000 đồng, trích 200.000 đồng bỏ vào ly nhựa theo thỏa thuận ban đầu giữa các bị cáo. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người bị cáo 4.362.000 đồng.

[4.4] Bị cáo Bùi Văn T6: Mang theo số tiền 4.000.000 đồng. Sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, thắng được 1.600.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên người Thịnh số tiền 5.500.000 đồng. Bị cáo từng bị xét xử về hành vi đánh bạc, bị xử phạt với mức phạt tiền là 40.000.000 đồng vào ngày 16/9/2021. Bị cáo chưa chấp hành xong bản án nhưng tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Điều này cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh HDương Minh C1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H có mẹ là bà Nguyễn Thị Kim T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có bà ngoại tên Nguyễn Thị H1 được Nhà nước tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng quy định tại điểm i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh HDương Minh C1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tiền án, tiền sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi đánh bạc có tính chất đồng phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không lớn, các bị cáo Nguyễn Thanh HDương Minh C1 có đủ điều kiện để cho hưởng án treo nên căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, cho các bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo Nguyễn Thanh HDương Minh C1 về địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Đối với bị cáo Trịnh Minh T1Bùi Văn T6, hai bị cáo có tiền án về tội đánh bạc nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc thắng thu bằng tiền. Do vậy, hành vi của bị cáo T1T6 là nguy hiểm hơn các bị cáo khác, cần cải tạo các bị cáo trong môi trường nghiêm khắc hơn, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc vì động cơ vụ lợi, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 03 bộ bài tây 52 lá (trong đó 02 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa qua sử dụng) các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 9.750.000 đồng, các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 5.398.000 đồng thu giữ của các bị cáo, không sử dụng vào mục đích đánh bạc (H 1.836.000 đồng, T1 1.000.000 đồng, C1 562.000 đồng, T6 2.000.000 đồng) nên trả cho các bị cáo.

[10] Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng việc không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 là chưa đủ sức răn đe đối với các bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo T1T6 như đối với bị cáo HC1.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2024). Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

    2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Dương Minh C1 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2024). Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thanh H số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

      Giao các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại của Luật Thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    3. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T1 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Minh T1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

      Xử phạt bị cáo Bùi Văn T6 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn T6 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

  3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào các Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự.
    1. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.750.000 đồng (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    2. Trả lại cho bị cáo:
      • Nguyễn Thanh H số tiền 1.836.000 đồng (một triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
      • Dương Minh C1 số tiền 562.000 đồng (năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
      • Trịnh Minh T1 số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
      • Bùi Văn T6 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

      Số tiền trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang tạm giữ tại Biên lai thu tiền số 0001976 ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.

    3. Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (trong đó 02 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa qua sử dụng).

      Vật chứng trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Dương Minh C1, Trịnh Minh T1Bùi Văn T6, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - Cơ quan CSĐT - CA H. Dầu Tiếng;
  • - Cơ quan THAHS&HTTP-CAH.Dầu Tiếng;
  • - CC THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - UBND xã Thanh An;
  • - UBND phường Phú Lợi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H và Đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger