|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 26/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang
Các hội thẩm nhân dân:+ Ông Vũ Văn Thăng
+ Bà Lê Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Ông Phạm Văn Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Ngọc K, (tên gọi khác: T) sinh năm 1990 tại: Đồng Nai;Nơi cư trú: Khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1963 và bà Lê Thị M, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ tên Dương Thị Kim T1, sinh năm 1988 (không đăng ký kết hôn); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 21/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 15/2009/HSST.
- + Ngày 11/4/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 26/2014/HSST. Ngày 28/8/2019 chấp hành xong án phạt tù.
Bị cáo Lê Ngọc K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L.
- Bị hại: Ông Phạm Bình B, sinh năm 1947. Địa chỉ: Khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Ngọc K là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và không có việc làm ổn định. K đã 02 lần bị kết án về các tội trộm cắp tài sản và mua bán trái phép chất ma túy, nhưng tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 23/12/2023, Lê Ngọc K đi bộ đến khu vực nghĩa địa Tàu thuộc phường B, thành phố L gặp bạn là Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1988, nơi cư trú: khu phố B, phường X, thành phố L, Đ có tên gọi khác là “Be cháy” cũng là người nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Sau đó, Đ chở K đi trên xe mô tô nhãn hiệu Max (không rõ biển số) đi tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Khi đi đến khu vực thuộc khu phố R, phường B, thành phố L thì thấy phía trước nhà ông Phạm Đình B1 có đặt một số bao tiêu đen khô loại 50 kg, không có ai trông coi. K nói Đ dừng xe lại trước nhà ông B1 rồi K xuống xe lén lút đi vào hiên nhà bưng 01 bao tiêu khô đen nặng 50kg đi ra xe của Đ đang đứng chờ rồi tẩu thoát. Đ chở K ngồi sau xe ôm bao tiêu đi tìm nơi để bán. Trên đường đi đến khu vực quốc lộ A thuộc phường X, thành phố L thì xe mô tô của Đ hết xăng, Đ nói K xuống xe đứng đợi bên đường trông coi bao tiêu chờ Đại đi đổ xăng sẽ quay lại. K đứng đợi bên đường cùng bao tiêu thì bị Công an phường X đi tuần tra phát hiện biểu hiện nghi vấn nên đã đưa K về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, K đã khai nhận hành vi trộm cắp bao tiêu khô như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 138 ngày 25/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 50kg tiêu đen khô (thời điểm ngày 23/12/2023), có giá trị: 4.150.000 đồng.
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
- 01 bao tiêu khô nặng 50kg. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã xử lý vật chứng trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Đình B1.
- 02 đoạn Video thu giữ tại nhà ông Phạm Đình B1 ghi lại hình ảnh bị cáo K cùng Đ trộm bao tiêu, lưu trong hồ sơ vụ án.
Về dân sự:
Bị hại là ông Phạm Đình B1 đã nhận lại 50kg tiêu khô đen và không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-LK ngày 29/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Lê Ngọc K1 tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo cụ thể như sau:
- Đề nghị áp dụng định tại khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc K từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.
* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã mô tả, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu hồi được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Do động cơ vụ lợi cá nhân nên vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/12/2023, tại nhà ông Phạm Đình B1 thuộc khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Lê Ngọc K đã đột nhập vào nhà lén lút trộm cắp 01 bao tiêu đen khô cân nặng 50kg, có trị giá 4.150.000 đồng của nhà ông Phạm Đình B1, chở đi tìm nơi tiêu thụ thì bị Công an phường X, thành phố L phát hiện bắt giữ.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Ngọc K2 cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả gây ra.
[4] Về khung hình phạt của bị cáo: Bị cáo không phạm tình tiết định khung tăng nặng nên chỉ xét xử bị cáo tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với Nguyễn Hoàng Đ cùng bị cáo Lê Ngọc K trộm cắp bao tiêu, sau khi trộm cắp Đ đã bỏ trốn đến ngày 31/01/2024 Đ đã chết do bệnh lý nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Ngọc K, ngày 23/12/2023 Công an phường X, thành phố L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 bao tiêu có cân nặng 50kg, đã trả lại cho bị hại là ông Phạm Đình B1. Ông B1 không có yêu cầu gì nên không giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cũng như đề nghị mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[1]. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc K3 tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Ngọc K4 nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thu Trang |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
