Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST

Ngày 25 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Sỹ Tiến

Ông Lê Như Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Tâm - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023. Đối với bị cáo:

Đỗ Hữu T, sinh ngày 22/02/1981 tại: xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Hữu T1( đã chết) và bà Đỗ Thị D; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 và 01 con, sinh năm 2011; Gia Hữu bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ 2.Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023 đến ngày 21/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1990; vắng mặt
  2. Địa chỉ: số F T, phường L, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Lê Văn G, sinh năm 1994; vắng mặt
  4. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  5. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992; vắng mặt
  6. Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  7. Anh Đỗ Minh H1, sinh năm 1975; có mặt
  8. Địa chỉ: thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Ông Lê Bá C, sinh năm 1976; vắng mặt
  10. Địa chỉ: Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Hữu T3, sinh năm 1975; vắng mặt
  2. Địa chỉ: thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1978; vắng mặt
  4. Địa chỉ: thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch của Giám đốc Công an tỉnh T về huy động lực lượng thành lập các tổ công tác chuyên đề tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông trên các địa bàn, tuyến đường tỉnh, huyện, xã trong đó có huyện T. Ngày 23/5/2023 Trưởng Công an huyện T đã ban hành Quyết định số 52/QĐ-CATX về việc thành lập Tổ công tác chuyên đề gồm: Đồng chí Nguyễn Thanh S (cán bộ phòng CSGT Công an tỉnh T làm Tổ trưởng), các đồng chí Nguyễn Văn C1, Trịnh Xuân H2, Vũ Văn G1 (cán bộ Đội cảnh sát giao thông Công an huyện T làm tổ viên).

Ngày 17/17/2023, Công an huyện T ban hành Kế hoạch công tác số 31/CATX (từ ngày17/7/2023 đến ngày 23/7/2023), theo đó Tổ công tác chuyên đề được phân công là tổ số 3, cùng ngày Tổ được phân công nhiệm vụ: Tuần tra, kiểm soát cơ động kết hợp 01 điểm tại đường tỉnh lộ 506B, từ xã T đến xã X, đường T, từ xã X đến xã Q, đường T từ thị trấn T đi xã X. Các tuyến đường nội thị, liên xã, liên thôn trên địa bàn huyện T như các xã X,T, X, Xuân M, Xuân L... Thời gian tuần tra từ 08 giờ đến 16 giờ.

Khoảng 09 giờ ngày 17/7/2023. Tổ công tác gồm các anh Nguyễn Thanh S- Tổ trưởng, đồng chí Vũ Văn G1, Nguyễn Văn C1, tổ viên, sử dụng xe ô tô chuyên dụng của lực lượng cảnh sát giao thông Công an huyện T, biển kiểm soát 36A-008.70, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại đường liên xã P - X đoạn qua địa phận thôn D, xã P, huyện T. Lúc này tổ công tác phát hiện ô tô tải, biển kiểm soát 36C-034.48 do Đỗ Hữu T, sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã X huyện T, Thanh Hóa điều khiển di chuyển cùng chiều có dấu hiệu vi phạm chở hàng vượt quá chiều cao, quá trọng tải quy định, thùng xe chở C2 đầy nhưng không che bạt nên đã ra hiệu lệnh yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi dừng xe và xuống làm việc, tổ công tác đã thông báo các lỗi vi phạm của T đồng thời yêu T cầu xuất trình giấy tờ xe và đưa xe về Công an huyện để giải quyết. Do không xuất trình được giấy tờ xe nên T quay lên xe nổ máy điều khiển xe đi từ trong mép đường ra giữa đường rồi đi thẳng về phía trước không dựng lại với mục đích để bỏ chạy không cho tổ công tác lập biên bản vi phạm. Lúc này anh S và anh C1 đang đứng trước đầu xe ô tô phát hiện thấy T lái xe bỏ chạy thì tiếp tục ra hiệu dừng xe nhưng T không chấp hành mà vẫn cho xe đi thảng về phía trước buộc anh S và anh C1 phải tránh sang hai bên cho xe của T đi qua để đảm bảo an toàn. Sau khi đi qua tổ công tác,T tăng tốc xe di chuyển theo hướng về xã X để bỏ chạy. Thấy T không chấp hành việc dừng lại của theo yêu cầu của tổ công tác đang làm nhiệm vụ mà cố tình bỏ chạy, thể hiện việc coi thường pháp luật vì vậy để đảm bảo an toàn cho người khác và các phương tiện tham gia giao thông, tổ công tác đã sử dụng xe ô tô đuổi theo để ngăn chặn. Khi T điều khiển xe bỏ chạy được khoảng 200 mét thì tổ công tác đuổi kịp, vượt lên trước ra tín hiệu dừng lại, lúc này T phanh xe nhưng do xe chở hàng quá nặng nên xe ô tô di chuyển thêm một đoạn rồi mới dừng lại được dẫn đến phần đầu bên trái xe của T va chạm với phần thân xe bên phải của xe ô tô Công an huyện T.

Sau khi dừng được xe, tổ công tác đã tiến hành khống chế được T đồng thời báo cho Công an xã P phối hợp tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Chống người thi hành công vụ, sau đó bàn giao hồ sơ người bị bắt, cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T để giải quyết.

Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Đỗ Hữu T xác định là 0,189 mg/L, đồng thời tiến hành xét nghiệm các chất gây nghiện trong nước tiểu xác định Tâm âm tính.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của anh Nguyễn Thanh S, Vũ Văn G1, Nguyễn Văn C1 không phát hiện thương tích, còn Đỗ Hữu T có các thương tích xước da tại mặt trước cổ và dưới đầu gối phải, do T vùng vằng khi bị tổ công tác không chế, bắt giữ. Hiện các thương tích nhẹ và đã khỏi hoàn toàn.

- Về đồ vật, tài liệu tạm giữ

+ Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36C- 034.88 nhãn hiệu THACOFLD750 màu sơn xanh (đã qua sử dụng) do T điều khiển, quá trình điều tra xác định đó là xe của anh Đỗ Minh H1, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã X, huyện T, còn T là người lái xe thuê theo hợp đồng, hôm đó T sử dụng xe để đi chở C2 cho khách của anh H1 theo công việc hàng ngày nhưng không gặp anh H1 nên anh H1 không biết việc T có sử dụng rượu, bia trứơc khi đi làm.

+ Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A-008.70 nhã hiệu MITSUBISHI màu sơn trắng, đen (đã qua sử dụng) là xe thuộc sở hữu của Công an huyện T và được giao cho tổ công tác đi làm nhiệm vụ, do xe bị va quyệt với xe của T và bị hư hỏng nhẹ. Ngày 14/9/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện T đã tiến hành định giá và kết luận là 1.800.000 đồng.

Hiện cả hai xe ô tô trên đã tra lại cho Công an huyện và anh Đỗ Minh H1 ( là chủ xe) theo quy định.

Đối với Giấy phép lái xe của Đỗ Hữu T và các giấy tờ tài liệu liên quan đến vi phạm hành chính của T, đã được chuyển đến đội Cảnh sát giao thông Công an huyện để xem xét xử lý theo quy định.

-Về bồi thường dân sự

Đối với việc làm hư hỏng nhẹ một phần xe ô tô của Công an huyện, trị giá 1.800.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án T đã tự nguyện chi phí, sửa chữa bồi thường lại cho Công an huyện đầy đủ nên Công an huyện không yêu cầu giải quyết phần dân sự trong vụ án.

Đối với xe ô tô của anh H1 do T điều khiển không bị hư hỏng, thiệt hại anh Đỗ Minh H1 và T không yêu cầu giải quyết.

Đối với việc T bị xước da trong quá trình bị khống chế, bắt giữ do thương tích nhẹ đã khỏi nên không yêu cầu giải quyết.

*Đối với 03 File video ca me ra trích xuất thu được từ hệ thống Came ra của gia đình ông Phạm Văn B, trú tại thôn P, xã X, T, qua giám định kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 File video gửi giám định (đây là tài liệu chứng cứ nên đang được quản lý theo hồ sơ vụ án).

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSTX ngày 02/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Đỗ Hữu T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu T phạm tội “ Chống người thi hành công vụ”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điều 65; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T từ 07 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14( mười bốn) đến 18( mười tám) tháng, tính tyừ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Tiếp tục quản lý 03 file ghi hình trong đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/7/2023, tại đường liên thôn thuộc thôn D, xã P, huyện T. Đỗ Hữu T điều khiển xe ô tô tải chở C2 quá tải, không có giấy tờ xe, có dấu hiệu vi phạm hành chính nên Tổ công tác của do anh Nguyễn Thanh S, Nguyễn Văn G2 và Nguyễn Văn C1 đang làm nhiệm vụ đã yêu cầu dựng lại kiểm tra sau đó T dừng lại xuống làm việc và được tổ công tác thông báo các lỗi vi phạm thì T liền lên xe nổ máy điều khiển xe bỏ chạy, không chấp hành yêu cầu của tổ công tác, gây khó khăn và chống đối quyết liệt khi tổ công tác đang thực thi nhiệm vụ được phân công.

Hành vi của Đỗ Hữu T là nguy hiểm cho xã hội, đã gây cản trở, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của lực lượng Công an và xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Hữu T đã phạm vào tội "Chống người thi hành công vụ" theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính tại địa phương. Trong thời gian gần đây, tình trạng chống người thi hành công vụ diễn biến phức tạp, đặc biệt là chống lại lực lượng Công an khi thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự; hành vi đó thể hiện thái độ coi thường kỷ cương phép nước của người vi phạm; gây mất trật tự xã hội; làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Do đó, cần phải xử lý vụ án nghiêm minh, xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, cũng như đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã khắc phục, bồi thường thiệt hại, nên bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có Bố để là ông Đỗ Hữu T1 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội; xử phạt bị cáo T với mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

[5] Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Trong quá trình điều tra xác định bị cáo Đỗ Hữu TĐỗ Minh H1 ( sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã X, huyện T, Thanh Hóa. Là chủ xe otô biển kiểm soát 36C- 03488) có các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ như: Đỗ Hữu T điều khiển ô tô tham gia giao thông đường bộ mà trong hơi thở có nồng độ cồn là0,189mg/ Lít khí thở. T điều khiển ô tô chở cát mà không có mui, bạt che đậy. T chở cát trên thùng cao vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép và qúa khối lượng cho phép. Đỗ Minh H1 là chủ xe bị xử phạt về hành vi: Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b khoản 8 Điều 24 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019. Sửa đổi bổ sung tại điểm o Khoản 17 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021. Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt vi phạm đối với các lỗi này là phù hợp.

Về bồi thường dân sự: Đối với việc làm hư hỏng nhẹ một phần xe ô tô của Công an huyện, trị giá 1.800.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án T đã tự nguyện chi phí, sửa chữa bồi thường lại cho Công an huyện đầy đủ nên Công an huyện không yêu cầu giải quyết phần dân sự trong vụ án.

Đối với xe ô tô của anh H1 do T điều khiển không bị hư hỏng, thiệt hại anh Đỗ Minh H1 và T không yêu cầu giải quyết.

Đối với việc T bị xước da trong quá trình bị khống chế, bắt giữ do thương tích nhẹ đã khỏi nên không yêu cầu giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; Điều 65; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu T phạm tội “ Chống người thi hành công vụ”,
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Hữu T 08 (T5) tháng tù. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Đỗ Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Tiếp tục quản lý 03 file ghi hình trong đĩa DVD trong hồ sơ vụ án.

  3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Hữu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nvụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Hồng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 59/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gsdgứ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger