Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25/8/2023.

V/v: Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lại Thiện Phong;

2/ Ông Danh On.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H xét xử công khai vụ án thụ lý số: 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 08 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thị L, sinh năm 1980. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Anh Danh A, sinh năm 1978. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Thị L trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị L và anh Danh A có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/11/2007. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng chị không quan tâm, lo lắng cho gia đình, thường hay đánh đập vợ và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Danh A.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, chị L xác định giữa chị và anh Danh A có 02 người con chung là cháu Danh Thị Đ, sinh năm 2000 và cháu Danh Minh N. sinh năm 2003. Hiện các cháu đã lớn và đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết;

Về tài sản chung: Chị L xác định giữa chị và anh Danh A không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Danh A trình bày:

Về hôn nhân: Anh Danh A và chị Thị L có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/11/2007. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, do anh cũng hay nhậu nhẹt, từ trước đến nay anh chưa từng đánh đập vợ nhưng cách đây khoảng 01 năm do quá nóng giận nên anh có đánh vợ anh vài bạc tay và vợ anh cũng đã bỏ ra đi từ đó. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý, anh muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Anh Danh A xác định trong quá trình chung sống giữa anh và vợ anh có 02 người con chung là cháu Danh Thị Đ, sinh năm 2000 và cháu Danh Minh N, sinh năm 2003. Hiện tại cháu Đ và cháu N đã trưởng thành nên anh Danh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Danh A xác định giữa anh và chị Thị L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Danh A không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị L được ly hôn anh Danh A.
  2. Về quan hệ con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết;
  3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Danh A nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Danh A có nơi đăng ký thường trú tại ấp X, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện H thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007, chị Thị L và anh Danh A có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị L và anh A thống nhất xác định thời gian đầu vợ chồng anh chị sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, do nóng giận nên anh Danh A có đánh vợ và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh A thì anh A không đồng ý, anh A muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Xét thấy, hôn nhân gia đình được xây dựng trên nền tảng bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, nhưng giữa chị L và anh A lại phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung và hiện tại đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Mặt khác, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tiến hành hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm nhưng chị L vẫn kiên quyết ly hôn, còn anh Danh A không đồng ý ly hôn nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Điều đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân của chị L và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Bên cạnh đó, Tòa án cũng tiến hành xác minh đối với chính quyền địa phương được biết giữa chị Thị L và anh Danh A có phát sinh mâu thuẩn và hiện tại hai vợ chồng không còn sống chung với nhau khoảng 01 năm nay. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cho chị Thị L được ly hôn với anh Danh A.

[5] Về quan hệ con chung: Chị L và anh A xác định trong quá trình chung sống giữa anh chị có 02 người con chung là cháu Danh Thị Đ, sinh năm 2000 và cháu Danh Minh N, sinh năm 2003. Hiện tại cháu Đ và cháu N đã lớn và đã trưởng thành. Chị L và anh A thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về quan hệ tài sản: Chị Thị L và anh Danh A xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị L được ly hôn anh Danh A.
  2. Về con chung: Chị Thị L và anh Danh A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị Thị L và anh Danh A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thị L phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị L đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0010620 ngày 24/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu ;
  • - VKSND huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Đương sự.
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 59/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Thị L xin ly hôn với anh Danh A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger