|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm.
2. Ông Mạc Vương Long.
Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1999; Nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; dân tộc: Nùng; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; có bố là ông Hoàng Văn S, sinh năm 1977 và mẹ là bà Lê Thị Đ, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 03 anh em (bị cáo là con thứ hai).
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Đình P, sinh năm 1983. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đường Văn N, sinh năm 1991. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Đường Văn C, sinh năm 1993. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lục Văn N1, sinh năm 1998. Có mặt
Nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người chứng kiến:
- Ông Vi Văn T1, sinh năm 1968. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lãnh Văn B, sinh năm 1988. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 10 phút ngày 20/12/2023 trong lúc đang tuần tra tại khu vực thôn B, xã B, Tổ công tác của Công an xã B, huyện L phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1999, trú tại thôn K, xã P, huyện L có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác liền tiếp cận, khi phát hiện có Công an, T vứt ngay từ bên tay trái 01 (một) gói vật màu trắng ra nền đất, cách vị trí đứng của T khoảng 50cm, thì bị Tổ công tác phát hiện, tiến hành kiểm tra gói đồ vật mà T vứt ra là 01 (một) túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, nghi là ma túy. Tổ Công tác đã mời T về trụ sở làm việc, lập biên bản sự việc. Thu giữ 01 (một) túi nilon, có đặc điểm nêu trên, được cho vào phong bì thư dán kín, niêm phong ký hiệu “MT” và 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe wave alpha, biển kiểm soát: 98E1-875.09, màu sơn xanh-bạc. Ngày 21/12/2023 Công an xã B đã chuyển toàn bộ tài liệu, người, đồ vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 21/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xét nghiệm ma túy bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu, sử dụng que test đối với Hoàng Văn T, kết quả dương tính với ma túy Heroine.
Ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và vùng phụ cận của Hoàng Văn T tại thôn K, xã P, huyện L, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Cùng ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 369 về chất ma túy. Tại bản kết luận giám định số 2578 ngày 26/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B xác định: Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu "MT" đã được niêm phong gửi giám định chứa chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,265 gam, loại Heroine (H).
Ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho Hoàng Văn T xác định nơi T mua ma túy và vị trí T bị phát hiện có Công an nên đã vứt gói ma túy xuống đất, đồng thời lập biên bản, bản ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho T thực nghiệm lại quá trình mua ma túy, cầm và vứt ma túy xuống đất vào thời điểm xảy ra sự việc.
Về nguồn gốc số ma túy, Hoàng Văn T khai mua tại ngôi nhà gần khu vực T bị phát hiện tại thôn B, xã B, huyện L, do một người đàn ông T không quen biết, không nhìn thấy mặt, bán qua khe cửa với giá 400.000 đồng vào tối ngày 20/12/2023.
Căn cứ lời khai của T về nguồn gốc ma túy và các tài liệu có liên quan, ngày 22/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét chỗ ở của Vũ Đình P, sinh năm 1983, trú tại thôn B, xã B, huyện L, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì ký hiệu "MT" được niêm phong theo quy định do Phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định, chứa 0,238 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định, đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 65/CT - VKS - LNg ngày 04 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà hôm nay bị cáo Hoàng Văn T khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố đã nêu, cáo trạng tuy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, không oan sai.
- Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
+ Bị cáo Hoàng Văn T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2023. Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tịch thu tiêu huỷ: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ký hiệu MT có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sơ thẩm cho bị cáo T.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án 15 (mười lăm) tháng tù để bị cáo sớm làm lại cuộc đời, vì tuổi đời bị cáo còn trẻ, hiểu biết pháp luật còn hạn chế.
Bị cáo Hoàng Văn T trình bày: Nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa và không tranh luận gì.
Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến được triệu tập hợp lệ vắng mặt, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt những người này theo quy định của pháp luật.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, phù hợp với lời khai của nhân chứng, tang vật chứng thu hồi được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 20/12/2023 tại thôn B, xã B, huyện L, bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,265 gam, loại Heroine (H), với mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị Tổ công tác Công an xã B, huyện L phát hiện, lập biên bắt giữ.
[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma tuý là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[5] Các chất ma túy do Nhà nước quản lý và nghiêm cấm công dân tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép. Người nào có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng theo quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Ma túy đã trở thành mối hiểm họa chung của từng quốc gia và toàn nhân loại, đi cùng với đó là sự nghèo đói và bệnh tật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay cho việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
[8] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng Văn T tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[9] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp. Tuy nhiên mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là nhẹ chưa tương xứng so với hành vi, tính chất, mức độ và khối lượng ma túy heroin (0,265 gam) bị cáo tàng trữ trái phép. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn mức hình phạt đề nghị áp dụng của đại diện Viện kiểm sát và của người bào chữa mới phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ và mới đủ sức răn đe đối với bị cáo.
[10] Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành rà soát một số đối tượng, nhưng T đều không nhận dạng ra được những người này, cũng không biết rõ đặc điểm của người đã bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.
[12]. Về xử lý vật chứng:
[12.1] Về nguồn gốc chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe wave alpha, biển kiểm soát: 98E1-875.09, màu sơn xanh-bạc nêu trên là của anh Đường Văn N, sinh năm 1991, trú tại thôn K, xã P, huyện L, mua ngày 27/3/2023 từ anh Lục Văn N1, sinh năm 1998, trú cùng thôn với giá 12.000.000 đồng. Sau đó em trai anh N là anh Đường Văn C, sinh năm 1993, trú cùng địa chỉ cho T mượn để đi lại. Xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Khi mượn xe, T không nói cho anh C biết mục đích mượn xe mô tô để đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đặt ra xem xét, xử lý anh C là có căn cứ.
[12.2] Đối với tang vật liên quan đến hành vi phạm tội là 01 (một ) phong bì thư được niêm phong dán kín bên ngoài có ký hiệu “MT” do Phòng K - Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị về phần xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được cấp nhận.
[13] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Đề nghị về miễn án phí của bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được cấp nhận.
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư được niêm phong dán kín bên ngoài có ký hiệu “MT” do Phòng K - Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã Ký) Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: abc
