Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.
  • 2. Ông Lê Minh Chiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Ngọc T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/5/1988, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 05/12; Bố: Đỗ Ngọc C, sinh năm 1959; Mẹ: Lê Thị T1 (Đã chết); Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ hai; Vợ: Trịnh Thị T2, sinh năm 1986; Có 01 con: sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 đến ngày 25/4/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Lê Xuân H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/5/1982, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kỉnh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Lê Xuân H1 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954; Gia đình có 02 anh em, bị can là con đầu; Vợ: Lê Thị H3, sinh năm 1983; Có 04 con: Lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 khởi tố áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Thế H4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/10/1978, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Nguyễn Thế H5 (Đã chết); Mẹ: Phạm Thị T3, sinh năm 1954; Gia đình có 05 anh em, bị can là con thứ ba; Vợ: Lê Thị T4, sinh năm 1980; Có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 khởi tổ áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa

  4. Họ và tên: Trịnh Đình C1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/8/1994, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Bố: Trịnh Đình S, sinh năm 1971; Mẹ: Lê Thị T5, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lưu Thị T6, sinh năm 1995; Có 02 con: Lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 khởi tổ áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

  5. Họ và tên: Lê Xuân L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/7/1991, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Lê Xuân C2, sinh năm 1962; Mẹ: Lê Thị L1, sinh năm 1963; Bị can là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Mai Thị H6, sinh năm 2000; Có 01 con: sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 khởi tố áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

  6. Họ và tên: Lê Xuân Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/5/1991, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Lê Xuân Đ1, sinh năm 1963; Mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1963; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Lê Thị P, sinh năm 1992; Có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị can bị tạm giữ tạm giam từ ngày 06/4/2024 đến ngày 25/4/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

  7. Họ và tên: Lê Xuân L2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/9/1967, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Lê Xuân T7 (Đã chết); Mẹ: Lê Thị X (Đã chết); Bị can là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Lê Thị N1, sinh năm 1971; Có 03 con: Lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1996. Tiền án, tiền: Không.

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 khởi tố áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông Lê Quang C3.(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 02/4/2024, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Y làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn đã phát hiện và bắt quả tang tại gia đình Đỗ Ngọc T có 06 đối tượng gồm: Nguyễn Thế H4, Lê Xuân H, Trịnh Đình C1, Lê Xuân L2, Lê Xuân L và Lê Xuân Đ đang sử dụng bài tú lơ khơ để đánh bạc dưới hình thức đánh liêng tính điểm ăn tiền tại phòng ngủ của gia đình T. Công an huyện Y đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 13.500.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng để trong hộp nhựa màu trắng là tiền các đối tượng cắt tiền hồ cho T); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếu trúc; 01 chiếu cói; 01 hộp nhựa màu trắng. Tiến hành tạm giữ đối với Đỗ Ngọc T, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2. Riêng Lê Xuân Đ đã bỏ chạy, đến ngày 06/4/2024 đã đến Công an huyện Y đầu thú.

Quá trình điều tra đã chứng minh được như sau: Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 02/4/2024, Nguyễn Thế H4 và Lê Xuân L có rủ nhau đến nhà Đỗ Ngọc T uống nước chè. Khi đến nhà T thì gặp Lê Xuân H cũng đến chơi. Lúc này, Đỗ Ngọc T nói: “Có đánh bài không để tôi đi mua bài? ”, Nghe T nói thì Xuân H và L đồng ý còn Thế H4 đi ra đường lát sau cũng quay lại. Thấy Xuân H và L đồng ý nên T đi đến quán T8 ở gần nhà mua 01 bộ bài tú lơ khơ, nước ngọt và bia mang về để ở phòng ngủ rồi trải 02 chiếu (01 chiếu cói và 01 chiếu trúc) ra nền nhà. Sau đó, có thêm Trịnh Đình C1, Lê Xuân Đ đến nhà T uống nước rồi cùng tham gia đánh bạc. Sau khi T trải chiếu, chuẩn bị bài và nước uống xong thì 05 người gồm Xuân H, Thế H4, L, Đ và C1 đi vào phòng ngủ nhà T để đánh bạc bằng hình thức sử dụng bài tú lơ khơ 52 cây đánh liêng tính điểm ăn tiền. Hình thức đánh bài ăn tiền cụ thể như sau:

Trước khi bắt đầu chơi, tất cả người chơi đều phải đặt cọc một số tiền là 50.000 đồng, gọi là tiền sàn hay cốp. Sau khi ván bài bắt đầu, mỗi người sẽ nhận được 03 lá bài từ người chia bài tương đương với từng số điểm riêng, bài của người nào mang giá trị cao nhất thì người đó thắng cuộc. Trong các ván bài có ít nhất 02 người cùng điểm cao nhất gọi là ván chào. Sau đó người thắng ván bài chào đó sẽ bỏ ra 50.000 đồng làm tiền “hồ” để trả cho Đỗ Ngọc T. Quá trình đánh bạc số tiền “hồ” các đối tượng đã trả cho T là 200.000 đồng được để trong hộp nhựa màu trắng. Sau khi Xuân H, Thế H4, L, Đ và C1 đánh bài ăn tiền được khoảng 30 phút thì có thêm Lê Xuân L2 đến và cùng tham gia. Trước khi đánh bài Lê Xuân H có hơn 4.000.000 đồng, Nguyễn Thế H4 có 4.000.000 đồng, Lê Xuân L có 1.000.000 đồng, Lê Xuân Đ có hơn 500.000 đồng, Trịnh Đình C1 có 3.050.000 đồng, Lê Xuân L2 có gần 500.000 đồng. Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Xác minh về nhân thân các bị cáo xác định: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Xác minh điều kiện tài sản, thu nhập của các bị cáo, xác định các bị cáo là lao động tự do tại địa phương không có thu nhập ổn định.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Lê Xuân H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền trên người là 3.060.000 đồng.

Kết quả điều tra xác định, số tiền 3.060.000 đồng Lê Xuân H đã tự nguyện giao nộp không liên quan đến việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Lê Xuân H. Các vật chứng còn lại gồm số tiền 13.500.000 đồng; 01 chiếu trúc; 01 chiếu cói; 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 âu nhựa (hộp nhựa) đang được bảo quản nhập kho vật chứng chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSYĐ ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo Đỗ Ngọc T, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2 về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật để xử phạt các bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 36, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đỗ Ngọc T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian tạm giữ tạm giam quy đổi. Khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 10% đến 15% mức thu nhập.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58, Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Trịnh Đình C1, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ và Lê Xuân L2 từ 20.000.000đ đến 25.000.000₫.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc 13.500.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếu trúc; 01 chiếu cói; 01 âu nhựa (hộp nhựa). Đây là tiền và vật mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

  2. Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định truy tố:

    Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 02/4/2024, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2 đã cùng nhau đánh bạc bằng hình thức sử dụng bài tú lơ khơ 52 cây, đánh liêng tính điểm ăn tiền tại nhà Đỗ Ngọc T ở Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Đỗ Ngọc T là chủ nhà tuy không trực tiếp đánh bạc nhưng đã rủ rê các bị cáo đánh bạc, chuẩn bị bài, chiếu, mua nước uống, cho Lê Xuân L vay tiền để đánh bạc và thu tiền hồ của các bị cáo là đồng phạm của tội đánh bạc. Tổng số tiền đánh bạc được xác định là 13.500.000 đồng.

    Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh các bị cáo Đỗ Ngọc T, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2 thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi của các bị cáo phạm vào tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, tội danh đánh bạc đã chính thức được thành lập đối với các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

  3. Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm:

    Tính chất của vụ án ít nghiêm trọng. Hành vi đánh bạc là sự sát phạt nhau về tài chính của mỗi cá nhân. Hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và đời sống gia đình các bị cáo, xâm phạm nếp sống văn minh, làm mất trật tự trị an. Hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguồn gốc nảy sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung.

  4. Đánh giá về vai trò của các bị cáo:

    Đây là vụ án hình sự có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo Đỗ Ngọc T là chủ nhà đã rủ rê các bị cáo khác đánh bạc, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đánh bạc nên giữ vai trò thứ nhất. Các bị cáo Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2 là những người trược tiếp đánh bạc, tuy số lượng tiền và thời gian đánh bạc có khác nhau nhưng không nhiều, nên cùng xếp vai trò thứ hai trong vụ án.

  5. Nhận định các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

    Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, chưa có tiền án nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Xuân H có bố, mẹ; bị cáo Nguyễn Thế H4 có mẹ; bị cáo Lê Xuân Đ có bà nội; bị cáo Đỗ Ngọc T, Lê Xuân L có ông nội; bị cáo Trịnh Đình C1 có ông ngoại là người có công với cách mạng, được tặng huân chương; Bị cáo Lê Xuân L2 từng tham gia quân ngũ; bị cáo Lê Xuân Đ sau khi phạm tội đã ra đầu thú, nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết và vị trí vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt HĐXX xét thấy:

    Các bị cáo là những người lao động thôn quê, tham gia đánh bạc lần đầu, số tiền đánh bạc ít, tính chất ít nghiêm trọng nên lựa chọn hình thức xử phạt nhẹ phù hợp với tính chất của vụ án. Đối với các bị cáo Đỗ Ngọc T là người có vai trò đầu nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là 23 ngày quy đổi thành 69 ngày (tức 02 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ) sẽ được trừ khi quyết định hình phạt. Thu nhập của bị cáo khoảng 5.000.000đ/1 tháng nên khấu trừ thu nhập 10% là phù hợp. Các bị cáo còn lại là người trực tiếp đánh bạc nên áp dụng hình phạt tiền là phù hợp.

    Hình phạt bổ sung: Các bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ có khấu trừ thu nhập và hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  6. Về vật chứng, án phí:

    Về vật chứng: Số tiền đánh bạc 13.500.000đồng là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếu trúc; 01 chiếu cói; 01 âu nhựa (hộp nhựa) là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

    Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo: Đỗ Ngọc T, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1Lê Xuân L2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểmi, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 36, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đỗ Ngọc T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 23 ngày quy đổi thành 69 ngày (tức 02 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ) còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 21 (hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ, mỗi tháng là 10% là 500.000đ nộp ngân sách Nhà nước. Thời hạn thi hành án tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Trịnh Đình C1, Lê Xuân L và Lê Xuân Đ mỗi bị cáo nộp một lần 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu) vào ngân sách Nhà nước.

Xử phạt Lê Xuân L2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp một lần vào ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Đỗ Ngọc T cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 13.500.000 đồng tiền đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếu trúc; 01 chiếu cói; 01 âu nhựa (hộp nhựa). Các vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định theo Phiếu nhập kho số NK 59 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Yên Định.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đỗ Ngọc T, Lê Xuân H, Nguyễn Thế H4, Lê Xuân L, Lê Xuân Đ, Trịnh Đình C1 và Lê Xuân L2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL,NV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Ngọc Tuấn và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger