Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 24/6/2024.

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tùng Dương
  2. Ông Tăng Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/02/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn N; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Số B, ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Bà Lâm Út T; Sinh năm 2000; Địa chỉ: Số A, ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện do ông Phạm Văn N lập ngày 19/02/2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa thì nguyên đơn ông Phạm Văn N trình bày như sau: Ông và bà Lâm Út T quen biết nhau vào năm 2017, đến năm 2018 thì kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng kết hôn ngày 30/5/2018. Sau khi kết hôn lúc đầu vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng thường hay cãi nhau cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước, do đó vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 cho đến nay.

Trong thời gian chung sống ông và bà Lâm Út T không có con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà Lâm Út T không có tài sản chung và nợ chung.

Nay ông Phạm Văn N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà Lâm Út T; Về con chung, tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn bà Lâm Út T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lâm Út T nhưng bà T không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn N và không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa theo triệu tập.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 19/02/2024, ông Phạm Văn N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Lâm Út T có nơi cư trú tại ấp N, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Trần Đề thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

[3] Về xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn bà Lâm Út T vắng mặt lần thứ hai không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn N:

[5] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn N và bà Lâm Út T tự nguyện kết hôn với nhau có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng kết hôn ngày 30/5/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Văn N và bà Lâm Út T là hợp pháp. Nhưng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường hay cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc cho nên đến tháng 10 năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng và ông Phạm Văn N làm đơn khởi kiện để xin ly hôn tại Tòa án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ chồng ông N, bà T đoàn tụ với nhau, tuy nhiên phía bà T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông Phạm Văn N và bà Lâm Út T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông N xin ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về con chung: Trong thời gian sống chung ông Phạm Văn N và bà Lâm Út T không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung, nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Phạm Văn N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Bà Lâm Út T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[12] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn N được ly hôn với bà Lâm Út T.
  • - Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét.
  • - Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét.
  • - Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002378, ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, ông Phạm Văn N đã thực hiện xong. Bà Lâm Út T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho bị đơn.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV &THA);
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - UBND xã Lịch Hội Thượng;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu (HSVA & TA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Lý Công Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn N được ly hôn với bà Lâm Út T. - Về con chung: Không có, không đặt ra xem xét. - Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét. - Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger