Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 59/2024/HN-ST

Ngày: 24/5/2024

“V/v xin ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Việt Trinh.

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 421/2023/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Ông Phạm Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 24/3/2024.

Bị đơn: Bà Trần Thị Phương T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị Phương T cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 28/02/2022. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là cuộc sống không hòa hợp dẫn đến cãi vã, ông làm nghề đi ghe cào đánh bắt xa bờ, mỗi chuyến ra khởi bình quân khoảng hai đến ba tháng. Bà T đã tự ý về nhà mẹ đẻ tại thị trấn T, huyện B, tỉnh Bến Tre để sống. Nay, ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với bà T nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Phương T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tổng đạt hợp lệ cho bà Trần Thị Phương T các văn bản tố tụng nhưng bà T vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà Trần Thị Phương T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm Văn H khởi kiện bị đơn bà Trần Thị Phương T. Bà Trần Thị Phương T có hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị Phương T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng bà vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Phạm Văn H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 24/3/2024. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn H và bà Trần Thị Phương T cưới nhau vào ngày 28/02/2022 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà T được công nhận là hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống ông H và bà T sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H đi làm xa nhà, bà T đã về nhà mẹ đẻ sống từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay nên ông H và bà T đã sống ly thân. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời bà T để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà T không đến dự. Điều đó cho thấy bà T không còn muốn hàn gắn đối với mối quan hệ hôn nhân với ông H, chứng tỏ hôn nhân giữa ông H và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Văn H.

[3] Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Ông Phạm Văn H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[4] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Văn H đối với bà Trần Thị Phương T. Cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Phương T.
  2. Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Ông Phạm Văn H khai không có, nên không xét đến.
  3. Về án phí:

    Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001375 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Vậy, ông Phạm Văn H đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Ông Phạm Văn H, bà Trần Thị Phương T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV&THA);
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HN-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 59/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Văn H đối với bà Trần Thị Phương T. Cho ông Phạm Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Phương T. 2. Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Ông Phạm Văn H khai không có, nên không xét đến. 3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001375 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Vậy, ông Phạm Văn H đã nộp đủ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger