Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN,

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 – 4 – 2024

V/v ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Giang.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2024/TLST - HNGĐ ngày 23/02/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Cẩm N, sinh năm 1994; Địa chỉ: số 26, ấp B, xã L, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp P, xã Phú M, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Trần Cẩm N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú M, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2021, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị N trình bày là do bất đồng ý kiến, quan điểm sống, anh T không quan tâm lo lắng cho gia đình, vợ con nên vợ chồng không có tiếng nói chung, thường hay cự cải với nhau từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc. Hiện chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Tại tòa, chị N xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung, chị N khai có bốn người con chung gồm: Nguyễn Như Ý, sinh ngày 14/3/2014; Nguyễn An Khánh, sinh ngày 24/10/2016; Nguyễn Kim Xuyến, sinh ngày 26/7/2020 và Nguyễn Nhã Uyên, sinh ngày 26/7/2022. Hiện cháu Nhã Uyên đang chung sống với chị N, các cháu còn lại đang chung sống với anh T nên khi ly hôn, chị N yêu cầu được nhận nuôi cháu Nhã Uyên, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con và giao ba người con còn lại cho anh T nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Khánh, cháu Ý có nguyện vọng được chung sống với anh T.

Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có.

Đối với anh Nguyễn Văn T, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng, anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về hôn nhân, anh T và chị N chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do anh T không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi ý kiến bằng văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N nên lời trình bày của chị N về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn được chấp nhận.

Cũng chính từ mâu thuẫn nêu trên, chị N xác định không còn tình cảm với anh T. Trường hợp Tòa án giải quyết không cho ly hôn, chị cũng không quay trở về chung sống với anh T, hiện chị và anh T không chung sống với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, cuộc sống nạnh ai nấy lo, không ai quan tâm đến ai. Do đó, có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa anh T với chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị N về việc xin ly hôn là có cơ sở, được chấp nhận.

[3] Về con chung, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Mặc dù, anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nhưng các cháu Như Ý, An Khánh và Kim Xuyến hiện đang chung sống cùng anh T đã ổn định, việc chị N và anh T ly hôn đã phần nào làm ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu. Hơn nữa, chị N cũng tự nguyện giao các cháu cho anh T nuôi dưỡng và nguyện vọng của các cháu Như Ý, An Khánh cũng muốn được chung sống với anh T, riêng cháu Nhã Uyên hiện còn bé lại là nữ giới nên cần có sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ. Do đó, để giảm bớt việc ảnh hưởng tâm lý, việc học tập và xáo trộn cuộc sống bình thường của các cháu nên yêu cầu về con của chị N được chấp nhận.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, tuy Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị N biết việc cấp dưỡng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng chị N cho rằng chị đủ điều kiện chăm lo cuộc sống của cháu Nhã Uyên nên không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng các cháu Như Ý, An Khánh và Kim Xuyến, chị sẽ tự cấp dưỡng riêng cho các con nên đề nghị Tòa án không ghi nhận trong bản án – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của chị N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung, chị N khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị N phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 144, 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Cẩm N về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • - Về con chung là Nguyễn Như Ý, sinh ngày 14/3/2014; Nguyễn An Khánh, sinh ngày 24/10/2016; Nguyễn Kim Xuyến, sinh ngày 26/7/2020 và Nguyễn Nhã Uyên, sinh ngày 26/7/2022. Khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Nhã Uyên cho chị Trần Cẩm N chăm sóc, nuôi dưỡng và giao các cháu Như Ý, An Khánh cùng Kim Xuyến cho anh Nguyễn Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm anh T cùng chị N cấp dưỡng nuôi con.
  • Anh T, chị N có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
  • - Về tài sản chung và nợ chung, chị Trần Cẩm N khai không có, nên không đặt ra xem xét.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Trần Cẩm N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 21/02/2024, chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003223 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.

Chị N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - UBND xã Phú M,
  • H. Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lâm Hoài Ân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Cẩm N và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú M, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2021, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị N trình bày là do bất đồng ý kiến, quan điểm sống, anh T không quan tâm lo lắng cho gia đình, vợ con nên vợ chồng không có tiếng nói chung, thường hay cự cải với nhau từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc. Hiện chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay, mỗi người sống một nơi. Tại tòa, chị N xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger