Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 59/2024/HS-ST

Ngày 23/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Sửu;

Ông Trần Anh Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024, đối với:

Bị cáo: Hoàng Đình T, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1996;

Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam;

Quê quán và nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị S, sinh năm 1968, đều thường trú thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Quyết định xử phạt cảnh cáo số 03/QĐ ngày 08/7/2008 của Công an huyện B đối với Hoàng Đình T về hành vi Trộm cắp tài sản; Quyết định xử phạt cảnh cáo số 05/QĐ ngày 18/7/2008 của Công an huyện B đối với Hoàng Đình T về hành vi Trộm cắp tài sản; Quyết định số 1434/QĐ-UBND ngày 19/8/2008 của UBND huyện B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Hoàng Đình T thời hạn áp dụng 18 tháng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt cảnh cáo đối với Hoàng Đình T ngày 28/3/2011 của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn về hành vi Trộm cắp tài sản; Quyết định số 1560/QĐ-UBND ngày 20/6/2011 của UBND huyện B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Hoàng Đình T thời hạn áp dụng 24 tháng.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Cụ Hoàng Thị T1, sinh năm 1930 (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

- Ông hạm Văn H1, sinh năm 1965, (vắng mặt);

Nơi thường trú: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1966, (vắng mặt);

Nơi thường trú: bản Mỏ Trạng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1968, (vắng mặt);

Nơi thường trú: bản Mỏ Trạng, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Dương Thị H4, sinh năm 1979, (vắng mặt);

Nơi thường trú: thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Ông H1, bà H3, bà H2 đều do bà Dương Thị H4 đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền lập ngày 02/4/2024, bà H4 vắng mặt tại phiên tòa).

- ÔngPhạm Văn Hải, sinh năm 1972, (vắng mặt);

Nơi thường trú: thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1973, (vắng mặt);

Nơi thường trú: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bà Hoàng Thị s, sinh năm 1968, (có mặt);

Nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện G, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 22/3/2024, Hoàng Đình T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 98R-035.10 đi đổ than về theo hướng xã C đi thị trấn C. Khi đi đến ngã tư N thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang thì T dừng đợi đèn đỏ để chuẩn bị rẽ phải theo hướng đi xã N. Khi đèn xanh các phương tiện bắt đầu di chuyển, T điều khiển cho xe ô tô kéo rơ mooc đi vào ngã tư và bắt đầu chuyển hướng rẽ phải. Khi chuyển hướng rẽ phải T chỉ quan sát qua kính chắn gió phía trước mà không quan sát qua gương chiếu hậu và gương cầu lồi bên phải nên không phát hiện thấy cụ Hoàng Thị T1 điều khiển xe đạp đi bên phải cùng chiều và sát đầu xe ô tô do T điều khiển. Do không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn khi chuyển hướng rẽ phải nên khi đi đến đúng ngã tư N thì đầu xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe đạp do cụ Hoàng Thị T1 điều khiển đang đi theo hướng C đi thị trấn C. Lúc này, xe đạp của cụ T1 bị cuốn vào gầm xe ô tô, bánh xe số 1, 2, 3, 4 bên phải xe ô tô đè lên người cụ T1. T thấy bánh xe kênh lên thì đã điều khiển xe chậm lại và đỗ ở lề đường bên phải. T xuống xe thì cụ T1 đã bị xe ô tô đè biến dạng tử vong tại chỗ. Sau đó T đã đến Cơ quan Công an đầu thú, trình báo sự việc.

Sau khi tai nạn xảy ra, Công an huyện T đã tiến hành đo nồng độ cồn của Hoàng Đình T, kết quả nồng độ cồn của T là 0,000mg/lít. Test nhanh chất ma túy trong cơ thể của Hoàng Đình T. Kết quả Hoàng Đình T dương tính với chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện T tạm giữ của Hoàng Đình T: 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] mang tên Hoàng Đình T; 01 chiếc mũ cối màu xanh; 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen trên mặt trước có chữ màu xanh, màu cam; 01 quần dài rằn ri màu xanh, đen, nâu; Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T tạm giữ của Bùi Văn T3: 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký rơ mooc số 98000040 của rơ mooc biển kiểm soát 98R-035.10; 01 giấy biên nhận thế chấp đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 số 98000125; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2028588; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0231635; 01 bản phô tô giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001039447; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số 0077159

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông xảy ra tại ngã tư giao nhau giữa đường T và tỉnh lộ 298 thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Lòng đường tỉnh lộ 295 rộng 13 m, lòng đường tỉnh lộ 298 rộng 10,6m. Bốn góc ngã tư có đặt đèn tín hiệu giao thông và có vạch sơn dừng đèn đỏ. Lấy trụ hộp thiết bị điện số TC41/TBA ở lề đường bên phải đường tỉnh lộ 298 làm mốc. Lấy mép đường bên phải tỉnh lộ 298 theo hướng thị trấn C đi N làm chuẩn.

Quá trình khám nghiệm phát hiện: Dấu vết số (1) là tử thi nữ giới dập nát biến dạng nằm ngửa trên đường đầu quay hướng xã C, chân quay hướng thị trấn C. Đỉnh đầu tử thi cách mốc là 8,37m về hướng thị trấn C và trùng với mép đường làm chuẩn, cách vạch dừng đèn đỏ bên phải đường tỉnh lộ 295 hướng C đi thị trấn C theo phương vuông góc là 19,3m, cách vạch dừng đèn đỏ bên phải đường tỉnh lộ 298 theo hướng xã N đi thị trấn C theo phương vuông góc là 8,9m. Gót chân phải tử thi cách điểm mốc 9,5m cách mép đường làm chuẩn 1,6m. Dấu vết máu ký hiệu số (2) là tổ chức cơ thể người trên mặt đường rải rác trên diện (10,4x0,9)m. Điểm đầu dấu vết cách đỉnh đầu tử thi 1,6m, cách mép đường làm chuẩn 1,4m. Điểm cuối cách mép đường làm chuẩn 3,5m. Xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 kép theo romooc biển kiểm soát 98R-035.10 đỗ trên đường T ký hiệu (3). Đầu xe quay hướng xã N, đuôi xe quay hướng thị trấn C. Trục bánh trước bên phải cách mép đường 0,5m. Trục bánh sau cùng bên phải cách mép đường làm chuẩn 0,6m. Cách đỉnh đầu tử thi 31,3m và cách điểm đầu dấu vết (2) là 31,3m về hướng xã N. Xe đạp màu sơn bạc ký hiệu (4) đổ nghiêng phải dưới gầm đầu xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90. Trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 1,75m, cách trục trước bên phải xe ô tô 98F-006.90 là 1,33m, trục sau cách mép đường làm chuẩn 1,85m, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 là 1,35m. Qúa trình khám nghiệm thu giữ: 01 xe đạp, 01 xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 kéo theo romooc biển kiểm soát 98R-035.10.

Kết quả khám xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 kéo theo romooc biển kiểm soát 98R-035.10: Mặt ngoài ốp nhựa viền để chân trước bên phải tại vị trí cách đất 63.5cm, cách cụm đèn bên phải đầu xe 70cm có dấu vết trượt xước nhựa sạch bụi đất chiều hướng từ trước ra sau kích thước (1,4x0,45)cm. Mặt ngoài ốp nhựa cánh cửa bên phải tại vị trí cách đất 100cm có dấu vết mài trượt nhựa sạch bụi đất chiều hướng từ trước ra sau kích thước (19.5x0.2)cm, mép dưới cánh cửa tại vị trí cách đất 89cm có dấu vết mài trượt nhựa sạch bụi đất hướng từ trên xuống dưới kích thước (4,5x0,4)cm. Mặt trước giề chắn bùn bánh trước bên phải có dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới tạo ra hai đường thẳng song song cách nhau 6,5cm, diện dấu vết (22x6,5)cm điểm thấp nhất cách đất 22cm. Mặt trước thanh kim loại cầu trục bánh trước có vết mài trượt kim loại sạch bụi đất trên diện (11,5x4,5)cm. Hệ thống lái, phanh, đèn, còi còn tác dụng (bút lục 127-128).

Kết quả khám xe đạp: Cạnh viền bên trái giỏ xe có dấu vết trượt xước nhựa kim loại bề mặt bám dính bụi đất kích thước (27x24)cm. Cạnh viền tay phanh bên trái có dấu vết mài trượt nhựa kích thước (0,3x0,3)cm đỉnh thắt nhất cách đất 100cm. Mặt dưới tay lái bên phải và tay phanh có dấu vết trượt xước nhựa, kim loại bề mặt bám dính bụi đất trên diện (6,5x0.5)cm. Đầu ốc cố định thanh kim loại các ba ga phía sau bên trái có vết mài trượt sơn, kim loại chiều hướng từ sau ra trước, kích thước (0,4 x 0,3)cm, bề mặt bám dính bùn đất. Điểm thấp nhất cách đất 66cm. Cạnh ngoài bên trái chân trống có vết mài trượt kim loại bám dính bùn đất, chất màu đen, hướng từ sau ra trước trên diện (12 x 1,3)cm. Đầu ngoài bàn đạp bên phải có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính bột đá màu trắng, trên diện (2,5 x 2,5)cm. Cạnh trái yên xe có vết mài trượt cao su, bám dính bùn đất trên diện (13,5 x 4,5)cm. Hệ thống lái phanh còn tác dụng.

Kết quả khám nghiệm tử thi: Vùng đầu mặt biến dạng có vết thương rách da phức tạp kích thước (35x24)cm, sâu thông vào hộp sọ, vỡ nát xương hộp sọ, tổ chức não dập nát thoát ra ngoài, vỡ nát các xương vùng hàm mặt, tai trái chảy máu, miệng mũi khô. Cổ mềm trật đốt sống cổ 3,4,5,6,7. Ngực bụng, lưng, mông: Vùng ngực phải bầm tím, kích thước (17x6)cm. Sườn trái bầm tím kích thước (17x3)cm. Ngực ấn ọp ẹp, gãy toàn bộ xương sườn hai bên và xương ức. Vùng bụng dưới và hai bên đùi dập nát kích thước (49x40)cm, các tạng trong ổ bụng và tiểu khung dập nát thoát ra ngoài, gãy toàn bộ khung xương chậu Tay phải: mu ngón tay phải có nhiều vết thương sát da trên diện (8x7)cm. Tay trái: cẳng tay trái có vết thương rách da kích thước (20x7)cm. Chân phải: vùng từ cẳng chân, bàn chân không thấy vết thương tích Chân trái: vùng từ cẳng chân bàn chân không thấy dấu vết thương tích.

Tại Bản kết luận giám định số 4722/KLGĐTT-TTPY ngày 29/3/2024 của Trung tâm pháp y, Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Vùng đầu, mặt biến dạng, có vết thương rách da phức tạp, sâu thông vào xương hộp sọ, vỡ nát xương hộp sọ, tổ chức não dập nát thoát ra ngoài. Vỡ nát xương vùng hàm mặt, tai trái chảy máu màu đỏ; Trật đốt sống cổ 3, 4, 5, 6, 7; Vùng ngực phải bầm tím; Sườn trái bầm tím; Ngực ấn ọp ẹp, gãy toàn bộ xương sườn hai bên và xương ức; Vùng bụng dưới, tiểu khung và hai bên đùi dập nát; Các tạng trong ổ bụng và tiểu khung dập nát thoát ra ngoài; Gãy toàn bộ khung xương chậu. Kết luận: Nguyên nhân chết: Chết do đa chấn thương do tai nạn giao thông. Kết luận khác: Thời gian chết: Cách thời điểm khám nghiệm trước 06 giờ; Các tổn thương ở mục kết quả chính qua giám định là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của bà Hoàng Thị T1. Cơ chế, chiều hướng, vật, lực gây nên các thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động mạnh.

Tại Bản kết luận giám định số 685/KL-KTHS, ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu vết trượt xước nhựa, sạch bụi đất hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ốp nhựa bậc lên xuống cánh cửa xe bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 (ảnh số 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt sơn, kim loại, bám dính bụi đất hướng từ sau ra trước ở đầu ốc cố định thanh kim loại gắn đỡ bên trái gác ba ga của xe đạp màu sơn bạc (khi xe đạp trong tư thế đứng, ảnh số 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện). Đây là dấu vết va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.
  2. Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, tạo thành 2 đường song song, hướng từ trên xuống dưới ở mặt trước chắn bùn trục bánh số 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 (ảnh số 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt nhựa, bám dính bụi đất, hướng từ sau ra trước ở đầu ngoài tay nắm và tay phanh bên trái của xe đạp màu sơn bạc (khi xe đạp trong tư thế đổ nghiêng phải, ảnh 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  3. Dấu vết mài trượt kim loại, sạch bụi đất, hướng từ trước ra sau ở mặt trước thanh kim loại trục cầu hàng bánh số 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 (ảnh số 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính đất, hướng từ sau ra trước ở mặt dưới thanh kim loại tay lái bên phải của xe đạp màu sơn bạc (khi xe đạp trong tư thế đổ nghiêng phải, ảnh số 21 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
  4. Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 với xe đạp màu sơn bạc trên mặt đường.
  5. Ngoài các dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 với xe đạp màu sơn bạc, trên hai phương tiện không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác.
  6. Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10 với cơ thể nạn nhân Hoàng Thị T1 qua dấu vết cơ học (do không trực tiếp nghiên cứu, đánh giá dấu vết trên cơ thể, trang phục và vật dụng nạn nhân T1 mang theo khi xảy ra tai nạn).
  7. Không xác định được tốc độ và chiều hướng của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại Bản kết luận giám định số 195/258-259/24/KLGĐĐC-PYQG, ngày 29/3/2024 của V, kết luận: Trong mẫu máu của Hoàng Đình T: có tìm thấy M. Không tìm thấy cồn và các chất ma túy khác nêu trên.

Tại văn bản số 1064/SGTVT-QLVT ngày 10/4/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh P xác định: Hoàng Đình T được sở giao thông vận tải tỉnh P cấp Giấy phép lái xe hạng FC, ngày cấp 09/05/2023, ngày hết hạn ngày 09/05/2028.

Qúa trình thực nghiệm, Cơ quan điều tra Công an huyện T cho Hoàng Đình T ngồi trên xe ô tô để quan sát ở vị trí ghế lái, Hoàng Đình T thừa nhận: thực nghiệm tại vị trí T điều khiển xe dừng đèn đỏ nếu đặt xe đạp vào bên phải xe ô tô thì quan sát qua gương chiếu hậu bên phải thấy được xe đạp của bà T1. Tại vị trí va chạm với xe đạp nếu nhìn qua gương cầu lồi thì thấy được xe đạp của bà T1 ở đầu xe.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trang đã truy tố.

Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của mình, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Hoàng Đình T.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bất tạm giữ, tạm giam 22/3/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Đình T nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Về sự vắng mặt của đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa đai diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  3. [3]. Về tội danh, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi và các chứng cứ khác trong vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 9 giờ ngày 22/3/2024, tại ngã tư N thuộc tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Đình T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98F -006.90 kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 98R-035.10 chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe đạp do bà Hoàng Thị T1 điều khiển đang đi thẳng theo hướng C đi thị trấn C ở bên phải, cùng chiều với xe ô tô do T điều khiển, hậu quả làm bà T1 tử vong tại chỗ. Do đó, hành vi của Hoàng Đình T đã vi phạm Khoản 7 Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Khi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi tham gia giao thông đường bộ bị cáo có sử dụng chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội, cần chấp nhận.

Xét về lỗi trong vụ án thì thấy: Lỗi hoàn toàn do bị cáo gây ra.

[3]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho đại diện bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo đầu thú. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng của người bị hại, gây tổn thất to lớn về tinh thần cho gia đình họ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an toàn giao thông trên địa bàn, bị cáo tham gia giao thông đường bộ có sử dụng ma túy và lỗi hoàn toàn do bị cáo. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, cần căn cứ vào Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo để bị cáo thành người công dân lương thiện, nhưng bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động với gia đình và chủ phương tiện để bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng). Nay đai diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe đạp là tài sản của cụ Hoàng Thị T1. Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Dương Thị H4, sinh năm 1979 trú tại thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Đối với xe ô tô biển kiểm soát 98F-006.90 kéo theo romooc biển kiểm soát 98R-035.10 chủ xe là Bùi Văn T3, sinh năm 1973 trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Ngày 04/4/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T3: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98F - 006.90 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 98R – 035.10; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký rơ mooc số 98000040; 01 giấy biên nhận thế chấp đăng ký xe ô tô số 98000125; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2028588; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0231635; 01 bản phô tô giấy chứng nhận bảo hiểm số 0001039447; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm số 0077159, việc trả lại các tài sản trên là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Hoàng Đình T cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc mũ cối xanh, có dây quai mầu nâu, 01 chiếc áo phông cộc tay, màu đen, trên áo mặt trước có chữ mầu xanh, mầu cam “BALENCIAGA”, 01 quần dài rằn ri mầu xanh, đen, nâu là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội lên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T 01 (một ) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/3/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Hoàng Đình T.

Trả lại bị cáo 01 chiếc mũ cối xanh, có dây quai mầu nâu, 01 chiếc áo phông cộc tay, màu đen, trên áo mặt trước có chữ mầu xanh, mầu cam “BALENCIAGA”, 01 quần dài rằn ri mầu xanh, đen, nâu, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND, THADS, Công an huyện;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện HP của BH;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tư Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của Toà án Nhân dân Huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 59/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án Nhân dân Huyện Tân Yên, Tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 9 giờ ngày 22/3/2024, tại ngã tư Ngô Xá thuộc tổ dân phố Ngô Xá, thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Đình Thi điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98F -006.90 kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 98R-035.10 chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm với xe đạp do bà Hoàng Thị Thú điều khiển đang đi thẳng theo hướng Cao Xá đi thị trấn Cao Thượng ở bên phải, cùng chiều với xe ô tô do Thi điều khiển, hậu quả làm bà Thú tử vong tại chỗ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger