Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 59/2023/HSST

Ngày: 23/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lê Thị Hải

2/ Bà Nguyễn Thị Túy Phượng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2023/TLST – HS ngày 10/7/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

VÕ HUẤN; sinh ngày: 28/02/1973, tại: Bến Tre; nơi thường trú: A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1948; Bị cáo chưa có vợ, con; có 02 anh, chị ruột.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 05 tiền án cụ thể như sau:

  • - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/HSST ngày 14/4/1992 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng khoản 1 Điều 151 BLHS năm 1985 xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản của công dân. Ngày 17/7/1994 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 07/9/1993 thi hành xong án phí.
  • - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 804/HSST ngày 07/7/1995 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm a khoản 2 Điều 151; điểm a, h khoản 1 Điều 38 BLHS năm 1985 xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1686/HSPT ngày 23/11/1995 Toà phúc thẩm -Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 20/01/1999 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 11/7/1997 thi hành xong án phí.
  • - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 2879/HSST ngày 08/12/2000 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 136 BLHS năm 1999 xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 19/12/2004 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 12/3/2004 thi hành xong án phí.
  • - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2006/HSST ngày 10/01/2006 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 136 BLHS năm 1999 xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 14/01/2012 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/10/2015 thi hành xong phần dân sự.
  • - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 172/2017/HSST ngày 24/8/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 xử phạt 05 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 581/HSPT ngày 14/11/2017, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngày 05/10/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 15/01/2018 thi hành xong án phí.

Bị can bị bắt quả tang ngày 16/11/2022 và tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an quận P.

(Bị cáo Võ H có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Hồng D, sinh năm 1991

Địa chỉ: A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông D vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 35 phút ngày 16/11/2022 tại khách sạn L1 số D N, phường G, quận P. Đội CSĐTTP về M – Công an quận P phối hợp với Công an phường G, Quận P theo dõi bắt giữ Võ Huấn có nghi vấn liên quan đến ma tuý. Qua kiểm tra khám nghiệm khu vực cầu thang đoạn lối lên giữa tầng hầm để xe và tầng lửng đặt quầy tiếp tân- nơi bắt giữ Võ H, Công an phát hiện thu giữ 01 mẫu kính mát bị vỡ nhiều mảnh, 01 nón vải màu nâu, 01 điện thoại di động hiệu OPPO có sim số 0708197371 và một cái mũ bảo hiểm màu đen viền đỏ ghi chữ “Nón Sơn” tại khu vực cầu thang là các đồ vật của Võ H sử dụng mang theo. Khi kiểm tra chiếc mũ bảo hiểm, Công an phát hiện ở phần mút xốp bên trong được khoét lỗ vuông chứa một gói giấy trắng bên ngoài cột thun, bên trong có một gói nylon được cột thun, bên trong gói nylon này chứa tinh thể không màu, tuy nhiên Võ H không thừa nhận nón bảo hiểm đó và gói tinh thể không màu tìm thấy là của mình và không ký biên bản. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong số tinh thể không màu trước sự chứng kiến của các nhân chứng tham gia xác nhận. Công an tiếp tục khám xét người, phương tiện và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ H nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì có liên quan. Xét nghiệm ma tuý thì Võ H dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.

Tại cơ quan công an, ban đầu H không thừa nhận chiếc nón bảo hiểm có cất giấu tinh thể nghi vấn ma tuý bên trong là của mình và khai bị đánh ép cung khi bị bắt giữ để buộc nhận có cất giấu ma tuý, tuy nhiên quá trình làm việc xác minh đấu tranh thì H đã hợp tác và khai nhận chiếc mũ bảo hiểm và gói tinh thể không màu bên trong là ma tuý của mình cất giữ mang theo, Võ H khai nguồn gốc số ma tuý cùng chiếc nón bảo hiểm là của bạn gái mới quen tên L đưa khi gặp tại góc đường ngã tư H, Phường B, quận B gần nhà và hẹn Võ H mang lên khách sạn L1 đặt phòng trước, rồi L đến sau để cả hai sử dụng ma tuý. Bản thân Võ H biết rõ L đưa ma tuý cho mình giữ mang đến khách sạn nhưng không biết số lượng bao nhiêu.

Tại bản kết luận giám định số 6764/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của phòng K Công an Thành phố H kết luận:

“Tinh thể không màu trong một gói nylon có buộc thun được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trang Anh N, Văn Tuấn A, Phan Văn V, Nguyễn Phước Q và hình dấu Công an G, quận P (ký hiệu mẫu m) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 49,8595 gram (bốn chín phây tám năm chín năm), loại Methamphetamine.

Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu camera an ninh trên các tuyến đường và trích xuất camera tại khách sạn L1, nhà số D N, phường G, quận P được sáu đoạn video, ghi nhận hình ảnh đặc điểm nhận dạng, di chuyển hoạt động của Võ H khi vào khách sạn L1 đến khi bị công an quận P bắt giữ để trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 7341/KL-KTHS ngày 14/03/2023 của phòng K Công an T kết luận:

- 01 USB bên trong chứa 06 tập tin Video ký hiệu từ A1 đến A6: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 tập tin video cần giám định.

- Tại thời gian hiển thị trên camera “2022/11/16 12:31:45" trong tập tin video ký hiệu A2, đối tượng có ngoại hình giống nam giới, đội mũ bao hiểm tối màu có vành màu đỏ, đội mũ kết tối màu, đeo kính đen, mặc áo sơ mi dài tay tối màu, quần dài có hai vạt sáng màu ở phía trên đầu gối, đi dép xỏ ngón tối màu (ký hiệu ĐT1) điều khiển xe mô tô di chuyển từ gần đến xa sau đó dừng xe, tháo mắt kính, bỏ mũ bảo hiểm, tay cầm mũ bảo hiểm và mở cửa bên trái rồi đi vào bên trong (có bản trích xuất mô tả hình ảnh kèm theo).

- Tại thời điểm hiển thị trên camera “2022/11/16 12:31:58" trong tập tin video ký hiệu A6, đối tượng có ngoại hình giống nam giới, đầu đội mũ kết, mặc áo dài tay, kính tối màu treo trên cúc áo trước ngực, tay trái cầm mũ bảo hiểm tối màu có vành mũ sáng màu (ký hiệu ĐT2) ĐT2 đi lên cầu thang hướng từ trái qua phải, từ dưới lên trên (có bản trích xuất mô tả hình ảnh kèm theo).

Đồng thời cơ quan điều tra trưng cầu giám định ADN của Võ H trên các mẫu vật trên vỏ bao bì chứa tinh thể không màu, mẫu giấy trắng bên ngoài cùng chiếc nón bảo hiểm thu được.

Tại bản kết luận giám định số 6343/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ C1 kết luận: “Trên gói nylon, mũ bảo hiểm, đoạn giấy trắng gửi giám định đều dính tế bào người. Phân tích ADN từ các mẫu tế bào này được kiểu gen nam giới hoàn chỉnh và trùng với kiểu gen của đối tượng Võ H (sinh năm 1973) cần so sánh, đối chiếu”.

Tại bản cáo trạng số 41/CT – VKS.PN ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố bị can Võ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và xác định: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ H mức án từ 12 (Mười hai) năm đến 13 (Mười ba) năm năm tù.

Xét hoàn cảnh không có việc làm của bị cáo, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xử lý vật chứng thu giữ của Võ H:

  • - 01 gói giấy dán kính niêm phong ma túy ghi số 1351/6764/2022 và chữ ký ghi tên Trần Đình H1 (Giám định viên), Đỗ Chính B (CBĐT) còn lại sau giám định. Đề nghị HĐXX tịch thụ tiêu hủy.
  • - 01 nón kết vải màu nâu; 01 (một) kính mát bị gãy vỡ, 01 áo sơ mi nam tay dài màu đen; 01 quần jean dài màu xanh: Là tài sản của bị cáo Võ H, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H từ chối nhận lại vì không có giá trị sử dụng. Đề nghị HĐXX tịch thụ tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO cũ, số Imei 1: 862173061255370, số Imei 2: 862173067255362, số sim: 0708197371. Đây là điện thoại của bị cáo H sử dụng liên lạc với đối tượng L nhằm mục đích sử dụng tổ chức trái phép chất ma túy. Đề nghị HĐXX tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 xe mô tô Honda Future màu đen, biển số 59S2- 222.43, số khung: RLHJC5383EY-050636, số máy: JC54E-2073745. Đây là tài sản hợp pháp của ông Võ Hồng D, là cháu ruột của bị cáo Võ H. Ngày 16/11/2022 Võ H lấy xe đi và bị bắt, Võ Hồng D không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Võ H. Cơ quan điều tra đã trả xe cho D. Đề nghị HĐXX không xem xét.
  • - 01 gói dán kính và niêm phong bên trong có 01 vỏ gói nylon, 01 đoạn giấy vệ sinh màu trắng, 01 cái mũ bảo hiểm màu đen chân viền đỏ hiệu “Nón sơn”: Là vật dụng cất giấu ma tuý. Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.
  • - 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn) đồng: Đây là tiền cá nhân của Võ H mang theo người (giấy nộp tiền tại ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh B1, tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/12/2022). Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo Võ H.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý trách nhiệm dân sự: Không có.

Bị cáo Võ H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo “Mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội thêm một lần nữa, để sớm hòa nhập cộng đồng, về chăm sóc cha mẹ già, hứa sẽ sớm khắc phục và thực hiện các nghĩa vụ về án phí đối với Nhà nước”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Võ H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ như các tập tin video mà cơ quan điều tra đã trích xuất trên các tuyến đường và tại khách sạn P1 số 4 N, Phường G, quận P, đồng thời Cơ quan điều tra tiến hành lấy mẫu giám định ADN của Võ H trên các vật võ bao bì chứa tinh thể không màu phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Ngày 16/11/2023 tại khách sạn L1, số D N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng Võ H bị bắt quả tang khi đang cất giữ 49,8595 gam ma túy loại Methamphetamine. Võ H khai nhận gói ma túy trên của đối tượng L đưa H giữ để đến khách sạn cùng nhau sử dụng.

[3]. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý phạm tội, bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tự giáo dục, cải tạo, rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội là thể hiện coi thường pháp luật nên áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã thực hiện, số ma túy thu giữ, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 05 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cân nhắc khi lượng hình nhằm có bản án công tâm, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nhưng cũng thể hiện được sự khoan hồng của Nhà nước nhằm giúp bị cáo nhận thức, sửa đổi, tu chí chấp hành hình phạt tù, tái hòa nhập cộng đồng.

[5]. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - 01 gói giấy dán kính niêm phong ma túy ghi số 1351/6764/2022 và chữ ký ghi tên Trần Đình H1 (Giám định viên), Đỗ Chính B (CBĐT) còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên HĐXX có căn cứ để tịch thụ tiêu hủy.
  • - 01 nón kết vải màu nâu; 01 kính mát bị gãy vỡ, 01 áo sơ mi nam tay dài màu đen; 01 quần jean dài màu xanh: Là tài sản của bị cáo Võ H, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H từ chối nhận lại vì không có giá trị sử dụng. Nên HĐXX xét cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO cũ, số Imei 1: 862173061255370, số Imei 2: 862173067255362, số sim: 0708197371. Đây là điện thoại của bị cáo H sử dụng liên lạc với đối tượng tên L nhằm mục đích sử dụng tổ chức trái phép chất ma túy. Nên HĐXX có căn cứ để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 gói dán kính và niêm phong bên trong có 01 vỏ gói nylon, 01 đoạn giấy vệ sinh màu trắng, 01 cái mũ bảo hiểm màu đen chân viền đỏ hiệu “Nón sơn”: Là vật dụng cất giấu ma tuý. HĐXX có căn cứ để tịch thu tiêu hủy.
  • - 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng: Đây là tiền cá nhân của Võ H mang theo người không liên quan đến vụ án (giấy nộp tiền tại ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh B1, tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/12/2022). Nên HĐXX có căn cứ để trả lại cho bị cáo Võ H.

[6]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Không có.

[7]. Về hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Võ H.

[8]. Đối với đối tượng L, bị cáo Võ H khai quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

[9]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[1]. Tuyên bố bị cáo Võ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Xử phạt: Bị cáo Võ H 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2022.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 gói giấy dán kính niêm phong ma túy ghi số 1351/6764/2022 và chữ ký ghi tên Trần Đình H1 (Giám định viên), Đỗ Chính B (CBĐT) còn lại sau giám định.
  • + 01 nón kết vải màu nâu; 01 kính mát bị gãy vỡ, 01 áo sơ mi nam tay dài màu đen; 01 quần jean dài màu xanh.
  • + 01 gói dán kính và niêm phong bên trong có 01 vỏ gói nylon, 01 đoạn giấy vệ sinh màu trắng, 01 cái mũ bảo hiểm màu đen chân viền đỏ hiệu “Nón sơn”.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO cũ, số Imei 1: 862173061255370, số Imei 2: 862173067255362, số sim: 0708197371.

- Trả lại cho bị cáo Võ H: 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng (Giấy nộp tiền tại ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh B1, tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/12/2022).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2023 được lập tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Võ H phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo Võ H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

[6]. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Phú Nhuận;
  • - CC THA Dân sự Q. Phú Nhuận;
  • - Công an Q. Phú Nhuận;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - PV 06 – CATp Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo Võ Huấn;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Thi hành án hình sự (TANDQPN);
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Cao Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2023/HSST ngày 23/08/2023 của Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 59/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy - Võ Huấn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger