Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/7/2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Vũ và bà Ngô Kim Quyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lục Thị Thùy L, sinh năm 1986; cư trú: Số nhà F, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt);

Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo M, sinh năm 1986; cư trú: Số E đường L, tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Lục Thị Thùy L trình bày: Chị L và anh Nguyễn Bảo M tự tìm hiểu yêu thương nhau, được gia đình hai bên đồng ý đi đến hôn nhân, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, chị L và anh M sinh sống chung gia đình anh M tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2015, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, vợ chồng thường cãi nhau. Chị L và anh M đã sống xa nhau từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh M.

Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh M có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Lục Bảo K, sinh ngày 09/10/2006 và Nguyễn Lục Bảo A, sinh ngày 29/10/2018. Hiện bé Bảo K đang sinh sống với anh M, bé Bảo A đang sinh sống với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi dưỡng bé Bảo A, đồng ý giao con chung tên Bảo K cho anh K nuôi dạy và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số 128/TB-TLVA ngày 05/3/2024 và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Bảo M thông qua người thân là bà Trần Thị P (là mẹ ruột ông M) và bà P cam kết báo lại cho anh M biết về việc chị L nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh M nhưng đến nay anh M không tham gia tố tụng và cung cấp văn bản ý kiến của mình cho Tòa án.

Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ: Xác minh mối quan hệ hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung; Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Bảo K; xác minh nơi cư trú của anh Nguyễn Bảo M tại Công an phường L, thị xã T, cụ thể:

- Bà Nguyễn Bảo P1 (chị ruột ông M) cung cấp: Anh M và chị L là vợ chồng và có 02 con chung tên Nguyễn Lục Bảo KNguyễn Lục Bảo A. Hiện bé Bảo K đang sinh sống với anh M, bé Bảo A đang sinh sống với chị L. Vợ chồng anh M và chị L không thường xuyên sinh sống tại địa phương, nên bà P1 không biết việc mẫu thuẫn giữa vợ chồng anh M và chị L là như thế nào. Bà P1 có nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu gửi và có thông báo lại cho anh M. Anh M cho biết không đồng ý ly hôn với L, do vẫn còn thương vợ con.

- Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Nguyễn Lục Bảo K: Cháu K là con ruột ông Nguyễn Bảo M và bà Lục Thị Thùy L, hiện cháu đang sống cùng với cha và gia đình ông bà nội. Nếu cha mẹ được Tòa án giải quyết ly hôn thì cháu có nguyện vọng sống với cha và gia đình ông bà nội.

- Công an phường L, thị xã T cung cấp số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ông Nguyễn Bảo M có nơi thường trú tại số E, đường L, tổ E, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Số A, NOXH BECAMEX, tổ D, ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa, chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh M và yêu cầu được nuôi dưỡng bé Bảo A, đồng ý giao con chung tên Bảo K cho ông K nuôi dạy và không yêu cầu cấp dưỡng.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn vắng mặt tại các buổi họp và làm việc của Tòa án.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lục Thị Thùy L với anh Nguyễn Bảo M.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lục Bảo K cho anh Nguyễn Bảo M nuôi; giao cháu Nguyễn Lục Bảo A cho chị Lục Thị Thùy L nuôi. Anh M và chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về án phí: Chị Lục Thị Thùy L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

*Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Chị Lục Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Bảo M. Anh M có nơi thường trú khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Bảo M được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh M tự tìm hiểu, yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp thuận, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 45/2013, quyển số 01/2023 ngày 01 tháng 7 năm 2013 phù hợp Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị L và anh M là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị M khai, thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2015, bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về tình cảm. Chị M và anh L đã sống xa nhau từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh M.

Theo kết quả xác minh (lấy lời khai chị Nguyễn Bảo P1) cung cấp: Anh M và chị L là vợ chồng và không thường xuyên sinh sống tại địa phương, nên bà P1 không biết nguyên nhân mẫu thuẫn giữa vợ chồng anh M và chị L là như thế nào. Bà P1 có nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu gửi và có thông báo lại cho anh M. Anh M cho biết không đồng ý ly hôn với chị L, do vẫn còn thương vợ con.

Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị L và anh M hàn gắn tình cảm, nhưng anh M vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng chị L và anh M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững. Xét, cho chị L ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L và anh M có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Lục Bảo K, sinh ngày 09/10/2006 và Nguyễn Lục Bảo A, sinh ngày 29/10/2018. Hiện bé Bảo K đang sinh sống với anh M, bé Bảo A đang sinh sống với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi dưỡng bé Bảo A, đồng ý giao con chung tên Bảo K cho anh M nuôi dưỡng và không yêu cầu anh M cấp dưỡng và chị L không cấp dưỡng nuôi con chung.

Biên bản ghi nhận ý kiến nguyện vọng của cháu Bảo K có nguyện vọng được sống với anh M.

Theo kết quả xác minh (lấy lời khai chị P1) cung cấp: Chị L và anh M, có 02 con chung tên Nguyễn Lục Bảo KNguyễn Lục Bảo A. Hiện bé Bảo K đang sinh sống với anh M, bé Bảo A đang sinh sống với chị L.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và nguyện vọng của cháu Bảo K, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Xét, giao cháu Bảo A cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng và cháu Bảo K cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Anh M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai, không có không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí, chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp. Anh M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lục Thị Thùy L.

Chị Lục Thị Thùy L được ly hôn với anh Nguyễn Bảo M.

Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2013, quyển số 01/2023 do Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 7 năm năm 2013 cho chị Lục Thị Thùy L và anh Nguyễn Bảo M không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Chị Lục Thị Thùy L được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Lục Bảo A, sinh ngày 29/10/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh M không phải cấp nuôi con chung.

Anh Nguyễn Bảo M được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Nguyễn Lục Bảo K, sinh ngày 09/10/2006 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Chị L không phải cấp nuôi con chung.

Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Anh M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí: Chị Lục Thị Thùy L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007775 ngày 29/02/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Chị L đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Bảo M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị L có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của anh M là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu (01);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L yêu cầu ly hôn M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger