|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày 23-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Ngọc
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXST-HS ngày 21/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 261/2024/QĐ-TA ngày 05/4/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc K và bà Đặng Thị Đ; có chồng là: Nguyễn Anh N và có 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; tạm giam ngày 10/11/2023; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số A F P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lã Viết N1 - Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Mạnh H- Luật sư của Công ty L3; có mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để làm ăn, tháng 7/2021 chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983, nơi cư trú: số A P, phường V, quận L, Hải Phòng hỏi vay tiền của Nguyễn Thị P, P đồng ý. Sau đó P đã dùng tiền của cá nhân và tiền vay của các tổ chức tín dụng để cho chị L vay nhiều khoản vay với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật để thu lợi bất chính. P đã sử dụng tài khoản số 19033210235015, chủ tài khoản mang tên Nguyễn Thị P mở tại ngân hàng T1 để chuyển khoản tiền vay vào số tài khoản 19036446047014 chủ tài khoản mang tên Nguyễn Thị L mở tại ngân hàng T1 là tài khoản của chị L. Hàng tháng, chị L phải đóng lãi vào tài khoản ngân hàng T1 của P. Quá trình điều tra xác định P đã nhiều lần cho chị L vay tiền với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật từ 252%/01 năm đến 2281,25%/01 năm, cụ thể như sau:
+ Ngày 09/7/2021, P cho chị L vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 10.850.000 đồng/01 tháng, tương đương lãi suất 260,4%/01 năm, cao gấp 13,02 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Chị L đã đóng lãi cho P từ tháng 7/2021 đến tháng 01/2023 là 18 tháng với tổng số tiền 195.300.000 đồng. Ngoài ra chị L còn phải trả cho P tiền chậm đóng lãi và tiền phạt do chậm đóng lãi, cụ thể: tháng 8/2021, chị L đóng lãi chậm 04 ngày, nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay 60.850.000 đồng và tính trong 04 ngày từ 08/8/2021 đến 11/8/2021 với lãi suất 255,5%/01 năm, số tiền lãi thu được là 1.700.000 đồng. Tiền phạt chậm đóng lãi P tính mức phạt 400.000 đồng/01 ngày, cụ thể: đóng lãi chậm 03 ngày tháng 11/2022 là 1.200.000 đồng, 13 ngày tháng 01/2023 là 5.200.000 đồng và 34 ngày tháng 02 và tháng 3/2023 là 13.600.000 đồng, tổng số tiền phạt là 20.000.000 đồng. Tháng 02/2023 chị L chưa đóng lãi cho P số tiền 10.850.000 đồng. Đến ngày 06/3/2023 tổng số tiền lãi chị L phải trả cho P trong khoản vay này là 207.850.000 đồng, số tiền lãi vượt quá quy định là 191.883.297 đồng, số tiền thu lợi bất chính (gồm tiền lãi vượt quá quy định và tiền phạt) là 211.883.297 đồng. Thực tế chị L đã đóng cho P số tiền lãi 197.000.000 đồng và chưa thanh toán tiền gốc cho khoản vay này.
+ Ngày 15/9/2021, chị L vay của P 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.200.000 đồng/01 tháng, tương đương lãi suất 252%/01 năm, cao gấp 12,6 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Chị L đã trả lãi 01 tháng là 4.200.000 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 3.866.667 đồng. Ngoài ra, chị L đóng lãi chậm 01 ngày nên P phạt 300.000 đồng. Đến ngày 16/10/2021 tất toán khoản vay, tiền lãi chị L phải trả cho P là 4.200.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính (gồm tiền lãi vượt quá
3
quy định và tiền phạt) của khoản vay này là 4.166.667 đồng. Thực tế chị L đã trả P số tiền lãi 4.200.000 đồng và đã thanh toán tiền gốc vay.
+ Ngày 20/10/2021, chị L vay của P số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 4.200.000 đồng/tháng, tương đương lãi suất 252%/01 năm gấp 12,6 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Chị L đã đóng lãi từ tháng 10/2021 đến tháng 10/2022 là 50.400.000 đồng, từ tháng 10/2022 đến tháng 01/2023 P thu lãi 4.500.000 đồng/01 tháng, tương đương lãi suất 270%/01 năm với số tiền lãi đã thu là 13.500.000 đồng. Ngoài ra, chị L còn phải đóng tiền phạt do chậm đóng lãi với mức phạt 300.000 đồng/01 ngày cụ thể: chậm đóng lãi 02 ngày tháng 3/2022, 02 ngày tháng 6/2022, 01 ngày tháng 9/2022, 04 ngày tháng 11/2022, 44 ngày năm 2023 với tổng số tiền phạt là 15.900.000 đồng. Tháng 02/2023 chị L chưa đóng lãi số tiền 4.500.000 đồng. Đến ngày 06/3/2023 tất toán khoản vay, tổng số tiền lãi chị L phải đóng cho P theo thỏa thuận của khoản vay này là 68.400.000 đồng, tiền lãi vượt quá quy định là 63.066.667 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính (gồm tiền lãi vượt quá quy định và tiền phạt) là 78.966.667 đồng, số tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 63.900.000 đồng. Khoản tiền này chị L chưa trả tiền gốc vay.
+ Ngày 08/12/2021, P cho chị L vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất 365%/01 năm, cao gấp 18,25 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 15/6/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 57.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 53.876.712 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 57.000.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 16/12/2021, P cho chị L vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất 365%/01 năm, cao gấp 18,25 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 15/6/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 18.200.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 17.202.740 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 18.200.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 03/7/2022, P cho chị L vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 608,33%/01 năm, cao gấp 30,42 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 04/7/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 967.123 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.000.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 22/8/2022, P cho chị L vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất 850.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1241%/01 năm, cao gấp 62,05 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 24/8/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi
4
phải đóng theo thỏa thuận là 2.550.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.508.904 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 2.550.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 23/8/2022, P cho chị L vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1216,67%/01 năm, cao gấp 60,83 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 26/8/2022 tất toán một phần khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 4.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.934.247 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 4.000.000 đồng và chị L đã trả 20.000.000 đồng tiền gốc. Còn lại số tiền vay 10.000.000 đồng P tiếp tục tính lãi nhưng không nhớ lãi suất và số tiền lãi thu được là bao nhiêu, sau đó chị L đã trả hết số tiền 10.000.000 đồng cho P.
+ Ngày 29/8/2022, P cho chị L vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất 2.400.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1251,43%/01 năm, cao gấp 62,57 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 23/11/2022 tất toán khoản vay, chị L phải trả cho P theo thỏa thuận là 208.800.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 205.463.014 đồng, số tiền lãi thực tế chị L đã trả là 208.800.000 đồng và đã trả gốc khoản vay này.
- Ngoài ra trong khoản vay ngày 29/8/2022 chị L đóng lãi chậm từ ngày 07/10/2022 đến 06/11/2022 số tiền lãi 74.400.000 đồng bị P tiếp tục tính thành khoản vay mới với lãi suất 2.500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1226,48%/01 năm, số tiền lãi chị L phải trả theo thỏa thuận là 42.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 41.806.959 đồng, số tiền lãi thực tế chị L đã đóng là 42.500.000 đồng.
- Tiền chị L chậm đóng lãi 17 ngày từ ngày 07/11/2022 đến ngày 23/11/2022 là 40.800.000 đồng bị P gộp với khoản đóng chậm lãi của khoản vay ngày 12/10/2022 thành khoản vay mới.
+ Ngày 30/8/2022, P cho chị L vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 800.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1460%/01 năm, cao gấp 73 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 18/9/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 16.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 15.780.822 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 16.000.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 19/9/2022, P cho chị L vay số tiền 16.000.000 đồng với lãi suất 750.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1710,94%/01 năm, cao gấp 85,55 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 20/9/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.482.466 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.500.000 đồng và đã trả tiền gốc.
5
+ Ngày 12/10/2022, P cho chị L vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 850.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1551,25%/01 năm, cao gấp 77,56 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 23/11/2022 tất toán khoản vay, chị L phải trả lãi cho P theo thỏa thuận là 36.550.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính 36.078.767 đồng, tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 36.550.000 đồng và đã thanh toán khoản tiền gốc. Tiền lãi từ ngày 12/11/2022 đến ngày 23/11/2022 là 10.200.000 đồng do chị L đóng lãi chậm nên P tính thành khoản vay mới, cụ thể: khoản tiền chị L chậm đóng lãi 40.800.000 đồng của khoản vay 70.000.000 đồng ngày 29/8/2022 nêu trên và tiền lãi 10.200.000 đồng của khoản vay 20.000.000 đồng ngày 12/10/2022, tổng cộng là 51.000.000 đồng P tính thành khoản vay mới từ ngày 24/11/2022 với lãi suất 1.800.000 đồng/01 ngày tương đương với mức lãi suất 1288,24%/01 năm. Đến ngày 22/12/2022, chị L đã thanh toán số tiền 51.000.000 đồng, số tiền lãi chị L phải trả cho P theo thỏa thuận là 54.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 53.161.644 đồng. Thực tế chị L chưa đóng lãi 54.000.000 đồng của khoản vay này nên P tiếp tục tính thành khoản vay mới từ ngày 22/12/2022 với lãi suất 1.800.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất 1216,67%/1 năm. Đến ngày 06/3/2023 tất toán khoản vay, số tiền lãi chị L phải trả cho P theo thỏa thuận là 117.000.000 đồng/65 ngày, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 115.076.712 đồng. Thực tế chị L chưa đóng lãi khoản vay này và cũng chưa trả số tiền 54.000.000 đồng.
+ Ngày 28/11/2022, P cho chị L vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 850.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1551,25%/01 năm, cao gấp 77,56 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 06/3/2023 tất toán khoản vay, số tiền lãi chị L phải trả cho P theo thỏa thuận là 83.300.000 đồng, số tiền lãi vượt quá quy định 82.226.028 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính (gồm tiền lãi vượt quá quy định và tiền phạt 02 ngày đóng chậm tháng 12/2022 là 3.600.000 đồng) là 85.826.028 đồng. Số tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 51.850.000 đồng, chị L chưa trả Phương tiền gốc khoản vay này.
+ Ngày 01/12/2022, P cho chị L vay số tiền 12.000.000 đồng với lãi suất 500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1520,83%/01 năm, cao gấp 76,04 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 02/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 986.849 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.000.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 02/12/2022, P cho chị L vay số tiền 12.000.000 đồng với lãi suất 500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1520,83%/01 năm, cao gấp 76,04 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Ngày 04/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là
6
1.480.274 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.500.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 03/12/2022, P cho chị L vay số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất 375.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 2281,25%/01 năm, cao gấp 114,06 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 06/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.486.849 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.500.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 04/12/2022, P cho chị L vay số tiền 12.000.000 đồng với lãi suất 500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1520,83%/01 năm, cao gấp 76,04 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Ngày 06/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 1.500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.480.274 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 1.500.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 06/12/2022, P cho chị L vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1825%/01 năm, cao gấp 91,25 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Ngày 10/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 5.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.945.205 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 5.000.000 đồng và đã trả tiền gốc.
+ Ngày 10/12/2022, P cho chị L vay số tiền 22.000.000 đồng với lãi suất 1.100.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1825%/01 năm, cao gấp 91,25 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 14/12/2022 tất toán khoản vay, số tiền lãi phải đóng từ ngày 10/12/2022 đến ngày 12/12/2022 là 3.300.000 đồng, do chị L đóng lãi chậm ngày 12/12/2022 và 13/12/2022 nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay 25.300.000 đồng và tính lãi 1.300.000 đồng/01 ngày, ngày 14/12/2022 P tính lãi như thỏa thuận ban đầu, tổng số tiền lãi phải trả của khoản vay này là 7.000.000 đồng (gồm tiền phạt chậm đóng lãi 02 ngày là 2.600.000 đồng và tiền lãi 04 ngày là 4.400.000 đồng) tiền lãi vượt quá quy định 4.351.781 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 6.924.055 đồng. Ngày 14/12/2022, chị L đã trả P 17.000.000 đồng gồm 7.000.000 đồng tiền lãi và 10.000.000 đồng tiền gốc, số tiền còn lại 12.000.000 đồng P tiếp tục tính lãi nhưng không nhớ lãi suất và số tiền lãi thu được, chị L đã trả 12.000.000 đồng còn lại cho P.
+ Ngày 25/12/2022, P cho chị L vay số tiền 12.000.000 đồng với lãi suất 400.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1216,67%/01 năm, cao gấp 60,73 lần so với quy định của Bộ luật Dân sự. Đến ngày 26/12/2022 tất toán khoản vay, tiền lãi phải đóng theo thỏa thuận là 800.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 786.849 đồng. Tiền lãi thực tế chị L đã trả cho P là 800.000 đồng và đã trả tiền gốc.
7
+ Ngày 29/11/2022, P cho chị L vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất 2.500.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1303,57%/01 năm, cao gấp 65,18 lần so với quy định của Bộ luật dân sự. Đến ngày 16/12/2022 theo thỏa thuận chị L phải đóng lãi với số tiền phải trả là 45.000.000 đồng/18 ngày. Ngoài ra, chị L chậm đóng lãi từ ngày 13/12/2022 đến ngày 16/12/2022 nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay khác số tiền 115.000.000 đồng và tính lãi 6.000.000 đồng/01 ngày, số tiền lãi phải trả là 24.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi phải trả của 02 khoản này là 69.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 68.057.534 đồng. Thực tế chị L đã đóng lãi cho P là 14.700.000 đồng. Số tiền lãi và tiền gốc chị L còn phải trả P là 124.300.000 đồng nhưng do chị L không trả được nên P tính thành khoản vay khác từ ngày 17/12/2022 với tiền lãi 5.000.000 đồng/01 ngày (lãi suất tương đương 1468,22%/01 năm), việc thu lãi của khoản vay này như sau:
- Ngày 17/12/2022, chị L trả P 10.000.000 đồng gồm 5.000.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 4.931.890 đồng) và 5.000.0000 đồng trả tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 119.300.000 đồng và P tính lãi 4.500.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1376,78%/01 năm).
- Ngày 19/12/2022, chị L trả P 13.000.000 đồng gồm 9.000.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 8.869.260 đồng) và 4.000.0000 đồng trả tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 115.300.000 đồng và P tính lãi 4.200.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1329,58%/01 năm).
- Ngày 20/12/2022, chị L trả P 15.000.000 đồng gồm 4.200.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 4.136.822 đồng) và 10.800.0000 đồng tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 104.500.000 đồng và P tính lãi 3.900.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1362,20%/01 năm).
- Ngày 21/12/2022, chị L trả P 7.000.000 đồng gồm 3.900.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 3.842.740 đồng) và 3.100.0000 đồng tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 101.400.000 đồng và P tính lãi 3.800.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1367,85%/01 năm).
- Ngày 26/12/2022, số tiền lãi chị L phải trả P là 19.000.000 đồng/05 ngày, số tiền thu lợi bất chính theo thỏa thuận là 18.722.192 đồng. Chị L chỉ trả được 10.000.000 đồng tiền lãi nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay mới 110.400.000 đồng và tiếp tục tính lãi 3.800.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1256,34%/01 năm.
- Ngày 31/12/2022, theo thỏa thuận số tiền lãi chị L phải trả P là 19.000.000 đồng/05 ngày, số tiền thu lợi bất chính theo thỏa thuận là 18.697.534 đồng (mười tám triệu sáu trăm chín bảy nghìn, năm trăm ba bốn đồng). Chị L chỉ trả được 4.000.000 đồng tiền lãi nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay mới
8
125.400.000 đồng và tiếp tục tính lãi 3.800.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1106,06%/1 năm.
- Ngày 04/01/2023, chị L phải đóng tiền lãi cho P là 15.200.000 đồng/04 ngày, số tiền thu lợi bất chính theo thỏa thuận là 14.925.151 đồng. Chị L chỉ trả được 15.000.000 đồng tiền lãi nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay mới 125.600.000 đồng với lãi 3.800.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1104,30%/01 năm.
- Ngày 05/01/2023, chị L trả P 10.000.000 đồng gồm 3.800.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 3.731.178 đồng) và 6.200.0000 đồng tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 119.400.000 đồng và P tính lãi 3.800.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1161,64%/01 năm).
- Ngày 11/01/2023, theo thỏa thuận số tiền lãi chị L phải trả P là 22.800.000 đồng/06 ngày, số tiền thu lợi bất chính theo thỏa thuận là 22.407.452 đồng. Chị L chỉ trả được 10.000.000 đồng tiền lãi nên P cộng tiền lãi vào tiền gốc thành khoản vay mới 132.200.000 đồng với lãi 3.800.000 đồng/01 ngày, tương đương lãi suất 1049,17%/01 năm.
- Ngày 20/01/2023, chị L trả P 37.000.000 đồng gồm 34.200.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lợi bất chính là 33.548.055 đồng) và 2.800.0000 đồng tiền gốc nên số tiền còn phải trả là 129.400.000 đồng và P tính lãi 3.800.000 đồng/01 ngày (tương đương lãi suất 1071,87%/01 năm).
- Từ ngày 20/01/2023 đến ngày 06/3/2023, số tiền lãi theo thỏa thuận chị L phải trả cho P là 171.000.000 đồng/45 ngày, số tiền thu lợi bất chính là 167.809.315 đồng.
- Đối với khoản vay ngày 29/11/2022 và các khoản vay phát sinh từ việc chậm lãi nêu trên, số tiền thực tế P chuyển cho chị L vay là 70.000.000 đồng. Đến ngày 06/3/2023 tất toán khoản vay, số tiền lãi chị L phải trả cho P theo thỏa thuận là 376.100.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 369.679.123 đồng, số tiền lãi thực tế chị L đã đóng cho P là 145.700.000 đồng. Lệ chưa trả tiền gốc khoản vay này.
Ngày 12/7/2023, chị Nguyễn Thị L đã đến Công an phường V trình báo về việc Nguyễn Thị P cho vay lãi nặng. Ngày 26/7/2023 chị L đã giao nộp 01 tờ giấy tính toán số tiền với tổng số tiền 621.350.000 đồng;
Tại Kết luận giám định số 220/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Phòng K1, Công an thành phố H, kết luận: Chữ viết từ dòng “20: 4tr5” đến dòng “1 + 2 + 3 + 4 + 5 - 6 = 635tr - 13650 = 621350” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của người mang tên Nguyễn Thị P trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một người viết ra.
9
Ngày 10/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành khám xét chỗ ở tại số A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng là chỗ ở của Nguyễn Thị P. Quá trình khám xét đã thu giữ: 01 điện thoại Galaxy Note 10 L, có số IMEI: 355045114385236 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đều đã qua sử dụng; 01 USB màu trắng nhãn hiệu EASY CA; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu ghi, có số DP/N: 4CW3NA03 DPC, máy tính đã qua sử dụng; 01 Giấy cho mượn tiền đề ngày 06/03/2023 và số tiền 3.500.000đồng.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và Tại phiên tòa bị cáo P khai tổng số tiền bị cáo đã được chị L thanh toán gồm: 412.000.000đồng tiền gốc và 869.050.000đồng tiền lãi theo thỏa thuận. Hiện số tiền gốc chị L1 chưa trả là 115.000.000đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị L khai nhận: Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 06/03/2023, chị đã vay của chị P 527.000.000 đồng, số tiền vay lãi của các khoản vay mà chị P phải trả cho chị L theo thỏa thuận là 1.317.250.000đồng. Số tiền gốc chị L đã trả cho P 412.000.000đồng, Số tiền lãi thực tế mà chị L đã trả cho chị P 869.050.000đồng. Số tiền gốc chị L chưa trả cho chị P là 115.000.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị L yêu cầu chị Nguyễn Thị P trả lại số tiền bị thu lợi bất chính theo quy định của pháp luật.
Đối với các khoản vay khác cả P và chị L đều không nhớ lãi suất cho vay, số tiền lãi đã thu được nên không có căn cứ xác định số tiền thu lợi bất chính. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để xử lý.
Đối với Nguyễn Anh N, chồng của Nguyễn Thị P tài liệu, chứng cứ thu thập xác định N không tham gia cùng P cho chị L vay tiền, tính lãi nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xứ lý.
Đối 01 máy tính xách tay, 01USB, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen đã thu giữ, quá trình điều tra xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại cho anh Nguyễn Anh N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số A P, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thị P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố. Bị cáo P khai tổng số tiền bị cáo đã cho chị Nguyễn Thị L vay nhiều lần là 527.000.000đồng
10
với lãi suất thấp nhất là 252%/01 năm đến lãi suất cao nhất là 2281,25%/01 năm tương ứng gấp 12,6 lần đến 114,06 lần so với Bộ luật dân sự quy định. Chị L đã thanh toán cho bị cáo gồm: 412.000.000đồng tiền gốc và 869.050.000đồng tiền lãi theo thỏa thuận. Hiện số tiền gốc chị L1 chưa trả là 115.000.000đồng. Nay bị cáo nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo đã gây ra do đó đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo P xin hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai: Do cần có tiền để kinh doanh Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 06/03/2023, chị đã vay nhiều lần của P 527.000.000 đồng với lãi suất theo thỏa thuận. Quá trình vay, số tiền vay lãi của các khoản vay mà chị P phải trả cho chị L theo thỏa thuận là 1.317.250.000 đồng. Số tiền gốc chị L đã trả cho P 412.000.000đồng, Số tiền lãi thực tế mà chị L đã trả cho chị P 869.050.000đồng. Hiện chị L chưa trả cho P số tiền gốc 115.000.000 đồng như bị cáo P khai là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ pháp luật giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 412.000.000 đồng là tiền gốc dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi từ số tiền cho vay tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 41.097.753 đồng. Bị cáo đã nộp 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị L là 869.050.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị L phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 115.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite. Trả lại cho bị cáo số tiền 3.500.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
11
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Không tranh luận về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51. Về điểm a khoản Điểm a khoản 1 quy định “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”. Điều này thể hiện ở ngày 06/3/2023, bị cáo đã thỏa thuận và ký cam kết với người vaychủ động chốt nợ và không phát sinh lãi, chỉ khi người vay vi phạm cam kết với phát sinh tranh chấp và có phiên tòa ngày hôm nay. Tính đến ngày hôm nay, bị cáo đã bị tạm giam 05 tháng 13 ngày, sức khỏe bị cáo hiện tại rất yếu do bị bệnh tim và có khối u trong cơ thể. Vậy nên tiếp tục tạm giam sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt mức án tù cho bị cáo bằng đúng với thời gian đã bị tạm giam để trả tự do cho bị cáo ngay sau phiên tòa ngày hôm nay, để bị cáo điều trị bệnh và tích cực lao động khắc phục hậu quả do mình đã gây ra.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quan điểm: Không tranh luận về tội danh, đối với tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 “ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”. Bị cáo đã tự nguyện nộp khắc phục một phần hậu quả là 30.000.000 đồng, đây là số tiền rất nhỏ so với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xem xét cân nhắc khi cho bị cáo được hưởng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ý kiến tranh luận của các bên được Hội đồng xét xử ghi nhận, xem xét và quyết định trong bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về tội danh:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản cáo trạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác
12
định: Trong khoảng thời gian từ ngày 09/7/2021 đến ngày 06/3/2023, Nguyễn Thị P đã cho chị Nguyễn Thị L vay tiền 527.000.000đồng với lãi suất 252%/01 năm đến lãi suất cao nhất là 2281,25%/01 năm tương ứng gấp 12,6 lần đến 114,06 lần so với Bộ luật dân sự quy định. Số tiền lãi chị L phải trả cho chị P theo thỏa thuận là 1.317.250.000đồng, số tiền thu lợi bất chính chị L phải trả cho P (gồm tiền lãi vượt quá quy định của tất cả các khoản vay trên và tiền phạt 39.800.000 đồng) là 1.315.952.247 đồng. Quá trình vay, số tiền lãi thực tế chị L đã trả cho bị cáo P là 869.050.000 đồng, và 412.000.000đồng tiền gốc. Hiện số tiền vay gốc chị L chưa cho P là 115.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” vi phạm khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an; bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo đã phạm tội nhiều lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 30.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Bố chồng bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
- Về hình phạt bổ sung:
[6] Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[7] Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 412.000.000 đồng là tiền gốc dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi từ số tiền cho vay tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 41.097.753 đồng. Tổng cộng là: 453.097.753 đồng. Bị cáo đã nộp 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo
13
thi hành án. Bị cáo phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị L số tiền 869.050.000đồng. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị L phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 115.000.000đồng.
- Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite, có số IMEI: 355045114385236, số IMEI 2: 355046114385234, xác định đây vật chứng nàylà công cụ phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
+ Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục giữ lại số tiền để đảm bảo Thi hành án.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
-Về quyền kháng cáo
[10] Bị cáo, người có quyền lợi liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 08 (tám) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 10/11/2023.
Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 412.000.000 (bốn trăm mười hai triệu) đồng là tiền gốc dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi từ số tiền cho vay tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 41.097.753 (bốn mươi mốt triệu không trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi ba) đồng. Tổng cộng là: 453.097.753(Bốn trăm lăm mươi ba triệu không trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm lăm mươi ba) đồng. Bị cáo đã nộp 30.000.000đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nên tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
- Buộc bị cáo phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị L là 869.050.000 (T trăm sáu mươi chín triệu không trăm lăm mươi nghìn) đồng.
- Buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị L phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 115.000.000 (Một trăm mười lăm triệu) đồng.
14
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án (đối với các khoản phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 10 Lite, có số IMEI: 355045114385236, số IMEI 2: 355046114385234 đã qua sử dụng.
- Trả lại bị cáo số tiền 3.500.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 06/02/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và theo Ủy nhiệm chi lập ngày 07/02/2024 của Công an quận L vào tài khoản 3949.0.1012022.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân tại K quận L).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
