TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2023/HS-ST | |
Ngày 22-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Trọng Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thôn
Bà Phùng Ngọc Anh
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đặng Gia Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Trịnh Duy H, tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H1 và bà Bùi Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30-5-2023, đến ngày 08-6-2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Cháu Đào Yến N, nơi ĐKTT: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Đào Trọng N và chị Nguyễn Thị O, cùng nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng (là bố và mẹ đẻ của cháu Đào Yến N); anh N có mặt, chị O vắng mặt;
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Phú C và bà Ngô Thị N, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24-5-2023, bị cáo Trịnh Duy H, có giấy phép lái xe ô tô hạng C, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CHIENTHANG, biển kiểm soát 23C- 039.64 đến xưởng ô tô của anh Nguyễn Văn Nn ở thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng để sửa chữa. Do chưa biết xưởng ô tô của anh N nên bị cáo đã điều khiển xe đi qua xưởng đến thôn N, xã T. Thấy có xe ô tô đỗ ở phía trước, bị cáo không quay đầu xe lại được nên đã điều khiển xe lùi lại để đi đến xưởng ô tô của anh N. Khi lùi xe được khoảng 07m, do không chú ý quan sát phía sau nên xe ô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ5-541.77 do cháu Đào Yến N điều khiển đi sau xe ô tô. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã nhờ người đưa cháu N đi cấp cứu rồi đến Công an xã Thái Sơn để trình báo. Trong quá trình làm việc, biết tin cháu N chết nên bị cáo hoảng sợ và bỏ đi khỏi trụ sở Công an rồi gọi điện báo tin cho gia đình đến xin lỗi, lo hậu sự và bồi thường cho gia đình cháu N. Đến ngày 30-05-2023, bị cáo đến Công an huyện An Lão đầu thú.
Kết luận giám định tử thi số 108/2023/KLGĐTT-TTPYHP ngày 30-5-2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận kết luận: Cháu N bị tai nạn giao thông chết ngay tại chỗ do đa chấn thương, chấn thương sọ não, chấn thương ngực nặng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn thuộc địa phận thôn N, xã T; lòng đường rộng 4,1m trải bê tông bằng phẳng, lề đường bên phải (theo chiều từ thôn N1 đi thôn N3) rộng 2,5m, lề đường bên trái rộng 01m. Lấy mép đường bên phải theo chiều xe ô tô đi làm chuẩn, vị trí nạn nhân, các phương tiện và các vết cày xước như sau: Trục trước bên phải xe ô tô biểm kiểm soát 23C-039.64 cách mép phải đường 0,8m; vết xước 01 dưới lòng đường có chiều từ thôn N3 đến thôn N1, được hình thành do tiếp xúc của chân chống giữa của xe máy điện biểm kiểm soát 15MĐ5- 541.77 với mặt đường, dài 7,2m, điểm đầu cách mép phải đường 1,8m, cách đầu vết cày 01 là 0,15m, cách đầu vết xước 02 là 1,8m; điểm cuối trùng với vị trí mặt ngoài bên trái chân chống giữa xe máy điện và cách mép phải đường 1,7m. Vết cày 01 có kích thước (20 x 03 x 0,5)cm có chiều từ thôn N1 đến thôn N 3; đầu vết cày cách mép phải đường 1,7m, cách đầu vết xước 01 là 0,15m, cuối vết cày cách mép phải đường là 1,65m. Vết xước 02 dài 0,55m, có chiều từ thôn N1 đến thôn N 3, điểm đầu cách mép phải đường 3,2m, cách đầu vết xước 01 là 1,8m, điểm cuối cách mép phải đường 3,1m và cách mép trục trước bên trái xe ô tô là 1,7m. Vết xước 03 của xe máy điện có chiều từ thôn N1 đến thôn N 3 được hình thành do tiếp xúc của đầu tay lái bên trái xe máy điện với mặt đường, dài 1,6m, điểm đầu cách mép phải đường 3,5m, điểm cuối trùng với vị trí đầu tay lái bên trái xe máy điện và cách mép phải đường 3,1m. Xe ô tô nằm dưới lòng đường, đầu xe quay hướng thôn N3, đuôi xe quay hướng thôn N1, trục trước bên phải cách mép phải đường 0,8m; trục sau bên phải cách mép phải đường 0,85m, trục sau bên trái cách trục sau xe máy điện 1,8m. Nạn nhân nằm tư thế nghiêng trái, đầu hướng về thôn N3, hai chân hướng về thôn N1, nằm phía dưới gầm (phía sau bên phải) xe ô tô, đầu cách mép phải đường 1,3m, chân phải cách mép phải đường 1,3m. Xe máy điện đổ về bên trái, nằm dưới gầm xe ô tô, đầu xe quay hướng thôn N3, đuôi xe quay hướng thôn N1, trục trước cách mép phải đường 2,2m, trục sau cách mép phải đường là 1,7m, cách góc bên trái nhà ông C 6,5m.
Kết quả khám nghiệm các phương tiện: Xe ôtô tải biểm kiểm soát 23C-039.64: Mặt dưới phía sau của cầu sau có vết lõm theo chiều từ ngoài vào trong, kích thước (08 x 07,5 x 01)cm, tâm vết lõm cách mặt đất 27cm; mặt dưới của cầu sau có vết mài trượt
theo chiều từ trước về sau, kích thước (09 x 4,5)cm; mặt dưới bát hơi cầu sau bên trái có vết mài xước kim loại, bật sơn màu đen, kích thước (07 x 1,5)cm; mặt dưới bát hơi cầu sau bên phải có vết trượt, lõm theo chiều từ trước về sau, từ ngoài vào trong, kích thước (07,5 x 3)cm. Xe máy điện biểm kiểm soát 15MĐ5-541.77: Đầu tay lái bên trái có vết mài trượt, chiều từ trước về sau, kích thước (03x1,5)cm; toàn bộ phần ốp nhựa phía trước đầu xe bị bung bật các khớp nối, gãy vỡ, tuột rời khỏi vị trí ban đầu; vành bánh xe phía trước bị gãy vỡ hoàn toàn, lốp xe bị bung bật, tuột rời khỏi vị trí ban đầu; mặt ngoài bên trái bàn để chân phía sau bên trái bị mài trượt nhựa, mất sơn màu đỏ, kích thước (08 x 3,5)cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe máy điện biểm kiểm soát 15MĐ5-541.77 cho anh Đào Trọng N và chị Nguyễn Thị O - là bố và mẹ đẻ của cháu N. Xe ô tô biểm kiểm soát 23C-039.64 bị cáo điều khiển có đăng ký xe mang tên Vù Thìn P, nơi cư trú: Thôn K xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Bị cáo khai mua chiếc xe này của một người buôn xe ở tỉnh Hải Dương khoảng tháng 10 năm 2022 nhưng không nhớ tên, tuổi, địa chỉ và đã mất giấy tờ mua bán. Anh P khai nhận có bán chiếc xe này cho một người tên Trần Xuân H nhưng không nhớ địa chỉ. Kết quả tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển chiếc xe này cùng với 01 đăng ký xe ô tô số 007639 mang tên Vù Thìn P, 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Duy H, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] và 01 đăng kiểm xe ô tô số 1607623 đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão phục vụ xét xử.
Bị cáo cùng với gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 200.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã bật đèn tín hiệu khi lùi xe nhưng do không chú ý quan sát phía sau nên đã đâm vào cháu N, làm cháu N chết, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng; đại diện hợp pháp của bị hại trình bày, sau khi xảy ra tai nạn, gia đình bị cáo đã đến thăm hỏi, bồi thường và cùng với gia đình bị hại lo hậu sự cho cháu N, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 30-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội:
Về tội danh và hình phạt: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24-5-2023, tại đường trục thôn N, xã T, huyện An Lão, bị cáo Hà điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 23C- 039.64; khi lùi xe, bị cáo không chú ý quan sát đã đâm vào cháu N, làm cháu N chết. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 16 của Luật Giao thông đường bộ. Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại; ăn năn, hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 38, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không giải quyết. Đề nghị trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 23C-039.64, đăng ký xe, đăng kiểm xe ô tô, giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe đã thu giữ cho bị cáo.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình bị hại; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Một người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng vắng tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của bị cáo Trịnh Duy H phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24-5-2023, bị cáo H, có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CHIENTHANG, biển kiểm soát 23C-039.64 đến xưởng ô tô của anh Nguyễn Văn N ở thôn N1, xã Thái Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Khi điều khiển xe lùi lại để đến xưởng ô tô, bị cáo không chú ý quan sát phía sau nên đã đâm vào xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ5-541.77 do cháu Đào Yến N điều khiển đi sau xe ô tô. Hậu quả, cháu N bị chết. Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 1 Điều 16 của Luật Giao thông đường bộ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên lỗi của bị cáo là lỗi vô ý.
[4] Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận hành vi của bị cáo Hà đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão truy tố đối với bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.
[5] Về lỗi của bị hại: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định bị hại không có lỗi dẫn đến vụ tại nạn.
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự công cộng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác, để lại hậu quả rất nghiêm trọng cho gia đình bị hại nên cần phải xử lý nghiêm.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình bị hại và đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[9] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án và tiền sự nên có nhân thân tốt.
[10] Về hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo.
[11] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý nên Hội đồng xét xử không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm hoặc thực hiện trách nhiệm dân sự khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[13] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, việc trả lại các vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án theo nên cần trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHIENTHANG biển kiểm soát 23C-039.64, 01 Đăng ký xe ô tô số 007639, 01 đăng kiểm xe ô tô số 1607623, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[15] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đào Trọng N có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị O vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 38, các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Trịnh Duy H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 30 tháng 5 năm 2023.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo Trịnh Duy H 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trịnh Duy H, 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHIENTHANG biển kiểm soát 23C-039.64 (số khung: 41ZLGDM00768, số máy: LAAF16002874), 01 (một) Đăng ký xe ô tô số 007639 mang tên Vù Thìn P và 01 (một) Đăng kiểm xe ô tô số 1607623, thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa Công an huyện An Lão với Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trịnh Duy H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự
Bị cáo Trịnh Duy H, đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đào Trọng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kê từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Trọng Đạt |
Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 59/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Duy H
