TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lương Minh Côn
Bà: Đinh Thị Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS, ngày 10/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Kim T, sinh năm 1981 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông: Cao Văn T1 (tên gọi khác: Vũ Kim T2), (Đã chết), con bà: Lê Thị T3; Có vợ: Bùi Thị H (đã ly hôn), bị cáo T và chị H có một con chung sinh năm 2001; vợ hai Bùi Thị N (đã ly hôn), bị cáo T và chị N có một con chung sinh năm 2010. Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 21/6/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2023.
Nhân thân: Ngày 25/01/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
- Người chứng kiến:
Ông Trần Văn T4, sinh năm 1962.
Trú tại: Xóm C, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, Tổ công tác của công an xã K, huyện Đ đang tiến hành tuần tra tại khu vực xóm C, xã K phát hiện bắt quả tang Vũ Kim T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. T tự giác giao nộp 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng, T đang cầm trong lòng bàn tay trái (T khai nhận đây là chất ma túy loại Heroine của T, mục đích để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, niêm phong vào phong bì ký hiệu A; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Sirius RC, nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ đen, BKS: 98M3-7378;
Xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã K đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.
Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 29/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Vũ Kim T. Kết quả khám xét không thu giữ gì.
Hồi 21 giờ 45 phút, ngày 29/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Vũ Kim T (trong phong bì ký hiệu A) có tổng khối lượng là 0,087 gam, lấy toàn bộ chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu A1, gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 327/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,087 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Kim T khai nhận như sau: Bản thân T là người nghiện chất ma tuý nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, T điều khiển xe mô tô, BKS 98M3-7378 (là xe mô tô của T) đi từ nhà đến xóm G, xã K, huyện Đ để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ và hỏi mua của người này 01 gói chất ma túy, loại Heroine được bọc bằng giấy màu vàng với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy, Thảo cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi T đi đến khu vực thuộc xóm C, xã K thì bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Kim T khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKSĐT, ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vũ Kim T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Kim T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Kim T từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ BKS 98M3-7378 của bị cáo do sử dụng vào việc phạm tội. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/01/2024 tại khu vực xóm C, xã K, huyện Đ, Vũ Kim T là người đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích, đã có hành vi tàng trữ 0,087 gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã K, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, ngày 25/01/2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21/6/2022 bị cáo lại tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành hình phạt tù xong, trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà trong khi đang có án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Tiền án này được coi là tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Vì vậy, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu A1, A2 xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đỏ, BKS 98M3-7378, xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[7] Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Kim T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
[8] Về nguồn gốc số ma túy Heroine: T khai mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm G, xã K, huyện Đ. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông này, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để điều tra xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Vũ Kim T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2024
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Vũ Kim T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bì niêm phong ký hiệu A1 và A2 đều còn nguyên tình trạng niêm phong.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô BKS 98M3-7378.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Kim T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (Vũ Kim T), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |
Bản án số 59/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 59/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
