TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Hoàng Hiệp.
- Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/22024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Lê Trấn T, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, trình bày: Chị và anh Lê Trấn T quen biết nhau tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 203 ngày 16/6/2017. Vợ chồng có 02 người chung là Lê Nguyễn Trúc V, sinh ngày 24/6/2016 và Lê Nguyễn Trúc Đ, sinh ngày 20/5/2018 cả hai cháu hiện đang sống với chị H. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống tính cách không hợp nhau đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T và yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H rút lại nội dung khởi kiện yêu cầu anh Lê Trấn T cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn anh Lê Trấn T vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh T, giao con 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi), anh Lê Trấn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí chị H phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lê Trấn T có nơi cư trú tại thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bị đơn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H rút lại nội dung khởi kiện yêu cầu anh Lê Trấn T cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy việc rút lại yêu cầu của chị H là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của chị H.
[2] Về hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện kết hôn, đến ngày 16/6/2017 thì đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn P cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, chị H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, giữa vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau nhưng qua lời trình bày của chị H thì hôn nhân của hai người không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài. Anh T đã được thông báo về việc chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn nhưng không có ý kiến đối với vấn đề hôn nhân của mình và không tham gia hòa giải tại tòa để hàn gắn tình cảm vợ chồng đã cho thấy mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị H tại phiên tòa giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh T theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 02 người con chung là Lê Nguyễn Trúc V, sinh ngày 24/6/2016 và Lê Nguyễn Trúc Đ, sinh ngày 20/5/2018. Xét thấy, cháu Trúc V có nguyện vọng sống với mẹ còn cháu Trúc Đ thì do chị H chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay và chị H có yêu cầu nuôi con chung khi ly hôn, anh T trong quá trình giải quyết vụ án không có trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trúc V và Trúc Đào cho chị H trực tiếp nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[7] Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện T là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lê Trấn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Trúc V, sinh ngày 24/6/2016 và Lê Nguyễn Trúc Đ, sinh ngày 20/5/2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Lê Trấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
- Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị đơn anh Lê Trấn T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số biên lai thu số 0003969 ngày 13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, chị H đã nộp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Kha |
Bản án số 59/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 59/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hằng yêu cầu ly hôn với Lê Trấn Tử
