Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2024/DS-PT

Ngày: 21 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp về chia di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Thẩm phán:

  • 1. Bà Trần Thị Thúy Ngọc
  • 2. Bà Thái Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLPT - DS ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc: Tranh chấp về chia di sản thừa kế.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐPT-DS ngày 07/6/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1959;
  • Địa chỉ: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Tăng Xuân K, sinh năm 1943;
  • Địa chỉ: Nhà số C, hẻm H, phố T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Tăng Thị L, sinh năm 1939
    2. Địa chỉ: K, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

    3. Bà Bùi Thị L1 sinh năm 1936
    4. Địa chỉ: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

    5. Bà Bùi Thị X, sinh năm 1946.
    6. Địa chỉ: P, nhà A, khu tập thể P, quận Đ, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

    7. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1950
    8. Địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

    9. Bà Bùi Thị B1, sinh năm 1950
    10. Địa chỉ: Nhà số A, ngõ Đ, đường B, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

    11. Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1952
    12. Địa chỉ: Xóm F, xã D, huyện D, Nghệ An. Vắng mặt.

    - Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị L1, bà Bùi Thị X, bà Bùi Thị B, bà Bùi Thị B1, ông Bùi Văn N1: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Có mặt)

    1. Bà Chu Thị P, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

Theo quy định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐPT-DS ngày 07/6/2024 giữa các đương sự:

  • * Người kháng cáo: 1. Ông Bùi Văn N, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
  • 2. Ông Tăng Xuân K, sinh năm 1941; Địa chỉ: Nhà số C, ngõ H, T, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Là: Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Bố ông Bùi Văn N là cụ Bùi Đ có quan hệ với mẹ ông là cụ Trương Thị B2, sinh 1910, vào khoảng thời gian năm 1947 hay 1948, không có đăng ký kết hôn, cụ B2 chết 10/01/2008, cụ Đ chết năm 1988. Trước khi chết cụ B2 không để lại di chúc mà chỉ để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thể hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U804526 do UBND huyện D cấp ngày 05/8/2003 đối với thửa đất số 852, tờ bản đồ số 2, diện tích 315m2 tại xóm F, xã D, huyện D, hiện ông K đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc, hiện trạng thửa đất số 194, tờ bản đồ 17, diện tích 340,9m2.

Trước đây gia đình ông N sinh sống tại làng Đ (T) xã D, huyện D, Nghệ An. Do có trận lụt lịch sử năm 1978 nên gia đình chuyển xuống chỗ ở hiện nay là xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau đó ông Tăng Xuân K đang công tác tại Hà Nội về và đưa cụ B2 ra Hà Nội. Đến năm 2000, cụ B2 từ Hà Nội về quê sinh sống. Mọi việc chăm sóc, nuôi dưỡng chủ yếu là do vợ chồng nguyên đơn đảm nhiệm. Đến năm 2005 theo nguyện vọng của cụ B2, nguyên đơn đã bàn bạc với mọi người và thống nhất làm 2 gian nhà cấp bốn cho cụ B2 sinh sống và ở trên mảnh đất đó đến khi qua đời. Kinh phí làm nhà do ông Tăng Xuân K bỏ ra, chồng bà P là ông Bùi Văn N là người trông coi vật liệu và theo dõi thi công, và bà P phải xin nghỉ việc ở cơ quan để về chăm sóc mẹ già. Trong khoảng thời gian này những người con riêng của bố chồng bà P là ông Đ với vợ cả là Trương Thị Q có động viên thăm hỏi, hỗ trợ vợ chồng bà P chăm sóc bà, những lúc bà ốm đau hay đi viện, nhất là những năm cuối cùng khi bà bị tai biến phải nằm liệt giường. Trong thời gian này, để đảm bảo sinh hoạt hàng ngày vợ chồng bà P đã tự bỏ kinh phí làm thêm 1 phòng ngủ và làm mái che khu vực sân nhà. Năm 2008 bà B2 qua đời. Năm 2013 chồng bà P đã xin ý kiến mọi người và đã làm 01 nhà 2 tầng, diện tích 80m2 về phía Đông, kinh phí do vợ chồng bà P tự bỏ ra để làm. Năm 2015, thực hiện việc đo đạc lại diện tích, chuyển đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng. Vợ chồng bà P đã nhiều lần ra tận nhà, gọi điện thoại cho ông Tăng Xuân K về để làm chuyển đổi và thống nhất trong anh em việc phân chia di sản thừa kế mà bà B2 để lại. Nhưng ông Tăng Xuân K không chịu hợp tác, mà cho rằng ông ấy là con ông “Trường, ông ấy có quyền muốn cho ai thì cho, cho bao nhiêu biết bấy nhiêu và ông ấy nói là áo ông ấy có trong tay tờ giấy không nhận quyền thừa kế của bà Bùi Thị B1 và ông Bùi Văn N1 (hai người này là con đẻ của bà B2) th”Khi ông ấy mới về giải quyết.

Đối với nội dung vụ án, bà P không yêu cầu gì về trích công sức tôn tạo, quản lý. Đối với các tài sản ông N, bà P có xây dựng thêm gắn với ngôi nhà ông Tăng Xuân K nếu khi Tòa phân chia ông K có nhu cầu sử dụng thì đề nghị nguyên đơn cho ông K sử dụng, nếu ông K không có nhu cầu thì nguyên đơn sẽ tự tháo dỡ. Đối với phần diện tích 315m2 (diện tích hiện trạng 340,9m2) để nghị chia 05 suất là con chung của cụ B2 với cụ Đ và con chung của cụ K1 với cụ B2 gồm bà Tăng Thị L, ông Tăng Đình K2, ông Bùi Văn N1, bà Bùi Thị B1, ông Bùi Văn N. Nguyên đơn đề nghị được lấy đủ phần diện tích đất được hưởng.

Bị đơn ông Tăng Xuân K trình bày: Thửa đất là tài sản riêng biệt của gia đình ông Tăng Xuân K gồm cụ B2, bà L, ông K do cụ K1 chết để lại từ đầu năm 1945. Cụ thể: Vào tháng 6/1945, sau khi hết 100 ngày tang của cụ K1 thì gia đình ông K đã mua 1 sào đất của ông Bùi Á với giá 200 quan tiền ở xóm T (Đ) rồi đào đất đắp nền, chuyển nhà từ xóm C (Đ) đến đây ở cho đến năm 1979. Gia đình ông K sống riêng biệt không liên quan đến tài sản gia đình ông Đ.

Năm 1979 do chủ trương dồn làng, chuyển nơi ở đi xây dựng kinh tế mới ở N, Nghệ An nên cụ B2 đã bán nhà ở Đ rồi giao lại đất cho Hợp tác xã rồi chuyển sang xóm F, xã D hiện nay. Cụ B2 được chia 1 sào đất ở tại xóm F, xã D từ năm 1980. Do chưa có điều kiện làm nhà, và lại ông K công tác ở Hà Nội nên ông K đã đón cụ B2 ra Hà Nội sống cùng. Khi đi cụ B2 đã gửi lại nhờ gia đình ông Đ trông nom phần tài sản còn lại. Đến cuối năm 2000, cụ B2 về quê sống. Đến tháng 8/2005 ông K làm nhà cho cụ B2 ở. Ông N chỉ về giúp ông K trông coi việc xây dựng của thợ và giúp mua một số vật liệu còn thiếu trong quá trình thi công. Việc ông N, bà P tự làm thêm nhà trên lý do để nơi thờ cúng cụ B2 cho đàng hoàng là không đúng vì ông K đã làm nhà ở và nơi thờ cúng khi cụ B2 còn sống.

Ông N đã về đây ở với cụ B2, chăm sóc cụ khi đau yếu, sau này bà P về ở cùng. Khi cụ B2 chết thì gia đình ông N chuyển về đây ở, sau đó tự ý làm thêm 1 nhà 2 tầng cùng trên mảnh đất này (năm 2013) rồi đòi chia thừa kế. Ông K không chấp nhận việc chia thừa kế thửa đất nêu trên mà thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông K vì việc cụ B2 không lập di chúc để lại thửa đất cho ai chứng tỏ cụ B2 để lại cho ông K là con trai trưởng.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị B, bà Bùi Thị L1, bà Bùi Thị B1, bà Bùi Thị X, ông Bùi Văn N1 là ông Bùi Văn N trình bày:

Đối với phần diện tích đất 315m2 (Diện tích hiện trạng 340,9m2) theo ông Bùi Văn N xét chia cho 05 suất là con chung của cụ B2 với cụ Đ và con chung của cụ K1 với cụ B2 (Gồm: Bà L, ông K, ông N1, bà B1, ông N) thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý. Khi tiến hành phân chia đất đai thì các đồng thừa kế đã ủy quyền cho ông Bùi Văn N được quyền hưởng di sản thừa kế của các đồng thừa kế (ông N1, bà B1) và ông N yêu cầu được nhận phần di sản bằng hiện vật là đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Chu Thị P trình bày:

Mẹ chồng bà P là bà: Trương Thị B2, sinh 1910, chết 10/01/2008. Theo Trích lục khai tử (bản sao) ở số 35/TL-KT do Ủy ban nhân dân xã D cấp ngày 02/08/2022. Do trước khi chết bà B2 không để lại di chúc mà chỉ để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Cụ thể như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U804526 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/8/2003 đối với thửa đất số 852, tờ bản đồ số 2, diện tích 315m2, mục đích sử dụng đất ở, vườn tạp, thời gian sử dụng lâu dài. Địa chỉ thửa đất: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ) ông Tăng Xuân K đang giữ. Theo “Phiếu xác nhận kết quả đo đạc, hiện trạng thửa đất số 194, tờ bản đồ 17, diện tích 340,9m2, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, hình thức sử dụng riêng. Địa chỉ thửa đất: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nguồn gốc thửa đất nói trên có trước năm 1980, cụ thể là:

Ến năm 2000, bà B2 từ Hà Nội về quê sinh sống. Khi về quê bà B2 sinh sống cùng gia đình bà P ở khối F, thị trấn D, huyện D. Mọi việc chăm sóc, nuôi dưỡng chủ yếu là do vợ chồng bà P đảm nhiệm. Đến năm 2005 theo nguyện vọng của bà B2 là được về sống ngay trên mảnh đất của bà B2. Vợ chồng bà P đã bàn bạc với mọi người và thống nhất làm 2 gian nhà cấp 4 để đưa bà về ở đó đến khi bà mất. Kinh phí làm nhà do ông Tăng Xuân K bỏ ra, chồng bà P là ông Bùi Văn N là người trông coi vật liệu và theo dõi thi công, và bà P phải xin nghỉ việc ở cơ quan để về chăm sóc mẹ già. Trong khoảng thời gian này những người con riêng của bố chồng bà P là ông Đ với vợ cả là Trương Thị Q có động viên thăm hỏi, hỗ trợ vợ chồng bà P chăm sóc bà, những lúc bà ốm đau hay đi viện, nhất là những năm cuối cùng khi bà bị tai biến phải nằm liệt giường. Trong thời gian này, để đảm bảo sinh hoạt hàng ngày vợ chồng bà P đã tự bỏ kinh phí làm thêm 1 phòng ngủ và làm mái che khu vực sân nhà. Năm 2008 bà B2 qua đời. Năm 2013 chồng bà P đã xin ý kiến mọi người và đã làm 01 nhà 2 tầng, diện tích 80m2 về phía Đông, kinh phí do vợ chồng bà P tự bỏ ra để làm. Năm 2015, thực hiện việc đo đạc lại diện tích, chuyển đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng. Vợ chồng bà P đã nhiều lần ra tận nhà, gọi điện thoại cho ông Tăng Xuân K về để làm chuyển đổi và thống nhất trong anh em việc phân chia di sản thừa kế mà bà B2 để lại. Nhưng ông Tăng Xuân K không chịu hợp tác, mà cho rằng ông ấy là con ông “Trường, ông ấy có quyền muốn cho ai thì cho, cho bao nhiêu biết bấy nhiêu và ông ấy nói là áo ông ấy có trong tay tờ giấy không nhận quyền thừa kế của bà Bùi Thị B1 và ông Bùi Văn N1 (hai người này là con đẻ của bà B2) th”Khi ông ấy mới về giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Tăng Thị L trình bày: Bà Tăng Thị L con đẻ của cụ Tăng Đình K3 và cụ Trương Thị B2, ông K3 chết năm nào bà không còn nhớ còn cụ B2 chết năm 2008. Cụ K3 và cụ B2 sinh được 02 người con là bà Tăng Thị L và ông Tăng Xuân K. Sau khi cụ K3 chết thì cụ B2 có quan hệ với ông Bùi Đ và sinh được 03 người con gồm: Bùi Văn N1, Bùi Thị B1, Bùi Văn N. Ông Đ có 03 người con riêng là Bùi Thị L1, Bùi Thị X, Bùi Thị B.

Về nguồn gốc thửa đất: Năm 1979 do chủ trương dồn làng chuyển nơi ở đi xây dựng kinh tế mới nên cụ B2 đã bán nhà ở Đ rồi giao lại đất cho Hợp tác xã rồi chuyển sang xóm F, xã D từ năm 1980, sau đó cụ B2 ra Hà Nội sinh sống cùng ông Tăng Xuân K, diện tích đất trên nhờ ông Đ trông coi đến năm 2003 thì được Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho cụ B2. Nay ông Bùi Văn N khởi kiện thì bà có ý kiến như sau: Đất là của cụ B2 nên không chia thừa kế cho bà và ông Tăng Xuân K, còn ông Bùi Văn N, Bùi Văn N, bà Bùi Thị Ba K sinh sống trên thửa đất này nên bà không đồng ý chia cho ba người này. Còn con riêng ông Đ không liên quan đến tài sản này nên không được hưởng. Riêng phần được hưởng di sản của bà L thì bà nhường lại cho ông Tăng Xuân K.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Văn N có đơn yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá tài sản và tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản tranh chấp. Ngày 05/07/2023, Tòa án đã tiến hành thành lập Hội đồng định giá tài sản và tiến hành xem xét thẩm định đối với các tài sản, nhưng bị đơn ông K vắng mặt không có lý do. Sau khi Hội đồng đã tiến hành định giá đất và các loại tài sản trên đất, ngày 06 tháng 07 năm 2023 Tòa án đã có thông báo kết quả định giá tài sản bằng văn bản cho ông Tăng Xuân K và bà Tăng Thị L được biết để phản hồi ý kiến. Ngày 20/7/2023, ông Tăng Xuân K có ý kiến việc định giá tài sản là thực hiện theo yêu cầu của ông Bùi Văn N nên ông không tham gia, không có ý kiến và không công nhận kết quả đã làm, ông K cũng không yêu cầu định giá lại tài sản. Đối với bà Tăng Thị L không có ý kiến gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

  • - Căn cứ Điều 70, Điều 227, Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147, Điều 157, 165 của Bộ luật “6”tụng dân sự.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ Điều 166, 167; khoản 1 Điều 168; điểm c, d khoản 1 êu“Điều 169, Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013;
  • - Căn cứ Điều 609, 611, 612, 613, 623, 649, 651 và Điều 660 của Bộ luật Dânsự năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị B2 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 852, tờ bản đồ số 02 (thừa mới là 194, tờ bản đồ số 17), diện tích 340,9m2 đất ở nông thôn và đất vườn đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp GCNQSDĐ số U804526 ngày 05/8/2003; Địa chỉ thửa đất: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo pháp luật.

Ghi nhận nhường quyền hưởng thừa kế của bà Bùi Thị B1 và ông Bùi Văn N1 cho ông Bùi Văn N được hưởng.

Ghi nhận nhường quyền hưởng thừa kế của bà Tăng Thị L cho ông Tăng Xuân K được hưởng.

* Chia cho ông Tăng Xuân K được sử dụng diện tích 201,4m2 (trị giá: 604.200.000 đồng) tại thửa đất (Theo GCNQSDĐ) số 852, tờ bản đồ số 02 (Hiện nay thửa đất theo bản đồ số là thửa 194 tờ bản đồ 17. Trong đó đất ở 80m2, đất vườn 121,4m2, ia“địa chỉ thửa đất: Xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, có kích thước tứ cận tiếp giáp như sau:

  • - Phía Bắc giáp đường bê tông xóm có kích thước (01 - 02) 11,45m.
  • - Phía Đông tiếp giáp phần đất giao cho ông Bùi Văn N có kích thước (02 - 05) 16,38m.
  • - Phía Nam giáp phần đất ủyông có kích thước (05 - 06) 9,01m.
  • - Phía Tây tiếp giáp phần đất nhà ông H có kích thước (06 - 07)12,37m; phần tiếp giáp đất nhà ông Đ có kích thước (07 - 01) 3,20m.

Ông Tăng Xuân K có trách nhiệm giao lại phần chênh lệch giá trị di sản được hưởng cho ông Bùi Văn N là 195.120.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Ông Tăng Xuân K có quyền sở hữu, sử dụng về tài sản của mình đã xây dựng trên phần diện tích đất được giao.

* Chia cho ông Bùi Văn N được sử dụng diện tích đất 139,5m2 (Trị giá: 418.500.000 đồng) tại thửa đất (Theo GCNQSDĐ) số 852, tờ bản đồ số 02 (Hiện nay, thửa đất theo bản đồ số là thửa 194 tờ bản đồ 17, trong đó đất ở 120m2, đất vườn 19,5m2) có kích thước tứ cận tiếp giáp như sau:

  • - Phía Bắc giáp đường bê tông xóm có kích thước (02 - 03) 11,20m.
  • - Phía Đông tiếp giáp phần đất ông ệ“Huệ có kích thước (03 -04) 6,80m.
  • - Phía Nam giáp phần đất ông ệ“Huệ có kích thước (04 - 05) 11,7m.
  • - Phía Tây tiếp giáp phần đất giao cho ông Tăng Xuân K có kích thước (02-05) 16,38m;

Ông Bùi Văn N và bà Chu Thị P có quyền sở hữu, sử dụng về tài sản của mình đã xây dựng trên phần diện tích đất được giao.

Ông Bùi Văn N được nhận phần chênh lệch giá trị di sản được chia từ ông Tăng Xuân K giao lại là 195.120.000 đồng (Một trăm chín mươi lăm triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn N và bà Chu Thị P đối với phần tài sản của ông Bùi Văn N và bà Chu Thị P xây dựng nằm trên đất giao cho ông Tăng Xuân K thì ông N, bà P thống nhất nếu ông K có nhu cầu sử dụng thì ông N, bà P để lại cho ông K sử dụng và không có yêu cầu gì. Trường hợp ông K không có nhu cầu sử dụng thì ông N, bà P có trách “nhiệm tháo dỡ để trả lại mặt bằng cho ông Tăng Xuân K.

Đối với phần đất đã chia cho các đương sự sử dụng có sơ đồ kèm theo bản án.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục về đất đai theo quy định của Luật Đất đai hiện hành.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/11/2023, ông Bùi Văn N có đơn kháng cáo với nội dung tài sản thừa kế nguyên đơn được hưởng chưa đủ. Đề nghị cấp phúc thẩm phân chia tài sản thừa kế theo đúng pháp luật, ai được hưởng bao nhiêu chia bấy nhiêu.

Ngày 29/11/2023, ông Tăng Xuân K có đơn kháng cáo với nội dung Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử không đúng bản chất sự việc, thiếu khách quan, thiên lệch, không trung thực, bóp méo sự thật về nguồn gốc tài sản, nguyên nhân xảy ra tranh chấp. Đề nghị Tòa án xét lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Bùi Văn N đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông, ông chỉ đồng ý nhận di sản thừa kế bằng đất chứ không đồng ý nhận bằng tiền. Bị đơn ông Tăng Xuân K đề nghị cấp phúc thẩm hủy bỏ Bản án sơ thẩm, trả lại đơn kiện cho ông Bùi Văn N; yêu cầu ông N, bà P hoàn trả lại hiện trạng ban đầu (của mảnh đất) khi mẹ ông còn sống; rút khỏi mảnh đất đang ở hiện nay tại xóm F, xã D; trả lại nhà và đất cho ông. Và đề xuất: nếu nguyên đơn không rút đơn khởi kiện thì Tòa án có thể bác bỏ (không chấp nhận đơn kiện) với lý do nguyên đơn đã làm nhà bất hợp pháp, nhập khẩu không hợp pháp vào mảnh đất của người đã chết; yêu cầu vợ chồng ông N tháo dỡ nhà tự làm, trả lại nguyên trạng mảnh đất khi mẹ ông còn sống; trường hợp vợ chồng ông N muốn bảo toàn giá trị ngôi nhà 2 tầng và công sức đã bỏ ra (để khỏi lãng phí) thì chỉ có cách là mua lại toàn bộ nhà và đất của gia đình ông, ông đang cần tiền nên sẽ bán với giá hợp lý có ưu tiên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của ông Bùi Văn N và ông Tăng Xuân K đúng thời hạn và đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn N và ông Tăng Xuân K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông N và ông K là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ông Bùi Văn N, bị đơn ông Tăng Xuân K có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hỏi ý kiến của các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không nhưng sau đó các đương sự không thỏa thuận được. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn N và bị đơn ông Tăng Xuân K thấy rằng:

    • - Về việc xác định hàng thừa kế, di sản thừa kế:
    • + Xác định hàng thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận: trước năm 1939 cụ Trương Thị B2 kết hôn với cụ Tăng Đình K3 và sinh được 02 người con chung là: Bà Tăng Thị L, ông Tăng Xuân K, sinh năm 1941. Đến tháng 01 (ÂL) năm 1945 thì cụ K3 chết. Sau khi cụ K3 chết khoảng năm 1947 hay 1948 cụ Trương Thị B2 có quan hệ với cụ Bùi Đ (Tại thời điểm đó cụ Đ đang có vợ là cụ Trương Thị Q chưa ly hôn) và sinh được ba người con chung gồm: bà Bùi Thị B1, sinh năm 1950, ông Bùi Văn N1, sinh năm 1952 và ui Văn N2, sinh năm 1959ông. Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án bao gồm các trích lục khai sinh cùng ngày 04/8/2023 đều thể hiện bà Bùi Thị B1, ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn N là con của cụ Trương Thị B2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trương Thị B2 là bà Bùi Thị L1, ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn N, bà Tăng Thị L, ông Tăng Xuân K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự, không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn về việc phân chia di sản thừa kế thì chỉ chia cho bà Tăng Thị L và ông Tăng Xuân K mà thôi.

      + Việc xác định di sản thừa kế: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị đơn trình bày thửa đất số 852, tờ bản đồ số 02, diện tích 315m2, nay là thửa đất số 194, tờ bản đồ số 17, diện tích 340,9m2 tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, là tài sản chung của ông K, cụ Trương Thị B2, bà Tăng Thị L do cụ Tăng Đình K3 chết để lại. Tuy nhiên, cũng tại phiên tòa ông K thừa nhận cụ K3 chết năm 1945, đến năm 1980 thửa đất tranh chấp mới được cấp cho cụ B2 nên không có cơ sở xác định thửa đất tại xóm F, xã D, huyện D là tài sản do cụ K3 để lại cho cụ B2, bà L và ông K. Mặt khác, tại thời điểm cụ B2 được cấp đất (năm 1980), ông K và bà L đều không sinh sống tại địa phương (ông K đang sinh sống tại Hà Nội) do đó không có cơ sở để khẳng định việc cấp đất là cấp cho cụ B2, bà L, ông K như ông K trình bày. Đồng thời, các đương sự đều thừa nhận sau khi cụ K3 chết thì cụ B2 có quan hệ tình cảm với cụ Bùi Đ và sinh ra 3 người con nhưng không kết hôn với nhau, thời điểm này vợ cụ Đ là cụ Trương Thị Q vẫn còn sống. Mặc dù cụ B2 và cụ Đ có con chung với nhau nhưng sống riêng nhà, không sống chung với nhau. Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 05/8/2003, Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/8/2015, Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 13/4/2015 đều thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 852, tờ bản đồ số 02, diện tích 315m2, nay là thửa đất số 194, tờ bản đồ số 17, diện tích 340,9m2 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An là chỉ một mình cụ Trương Thị B2. Do đó, cần xác định thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của cụ B2, năm 2008 cụ B2 chết không để lại di chúc nên Tòa án cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế của cụ B2 để lại pháp luật là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự; bị đơn kháng cáo yêu cầu không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.

    • - Về việc phân chia di sản thừa kế: Nguyên đơn ông Bùi Văn N kháng cáo cho rằng tài sản thừa kế mà ông được phân chia là chưa đủ, ông chỉ nhận đất không nhận bằng tiền. Tuy nhiên, theo nội dung của Bản án sơ thẩm thì ông N được hưởng phần di sản như sau: 340,9m2 : 5 = 68,18m2 x 3 = 204,4m2, có giá trị thành tiền là 204,4m2 x 3.000.000đ = 613.620.000 đồng. Ông K được hưởng phần di sản như sau: 340,9m2 : 5 = 68,18m2 x 2 = 136,36m2, có giá trị 409.080.000đ. Tuy nhiên, do hiện trạng tài sản trên đất là có các tài sản do ông K đã bỏ kinh phí ra để làm nhà từ năm 2005 và các tài sản do ông N đã xây dựng vào năm 2013 nên để đảm bảo giá trị sử dụng của tài sản, các bên được sử dụng khối tài sản theo hiện trạng các bên đã tạo lập trên đất và căn cứ kích thước thửa đất, Bản án sơ thẩm tuyên ông K được quyền sử dụng diện tích 201,4m2 có trị giá 604.200.000 đồng; ông N được quyền sử dụng diện tích 139,5m2 có trị giá 418.500.000đ và buộc ông K phải trích trả chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất cho ông N số tiền 195.120.000đ là đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên nên không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của nguyên đơn.
  3. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Bùi Văn N, bị đơn ông Tăng Xuân K là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi Văn N và kháng cáo của bị đơn ông Tăng Xuân K; giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 23/2023/DS-ST ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Văn N và ông Tăng Xuân K.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 59/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về chia di sản thừa kế.

  • Số bản án: 59/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia di sản thừa kế.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết tranh chấp về thừa kế giữa ông N và ông K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger